share experienceshareexperiencememcachedmemcached
+ Trả lời
Trang 1/4 1 2 3 4 CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 31

Chủ đề: ♥ Búp sen xanh - Sơn Tùng [Kể chuyện cuộc đời chủ tịch Hồ Chí Minh] (FULL)

  1. #1
    FA - Everything will be okay!
    Category Moderator

    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    61.346
    Next Level: 0

    ♥ Búp sen xanh - Sơn Tùng [Kể chuyện cuộc đời chủ tịch Hồ Chí Minh] (FULL)

    ♥ Nguồn: bachhovoihue.violet.vn


    Sơn Tùng

    Búp Sen Xanh




    Tác phẩm hay và thành công nhất viết về cuộc đời chủ tịch Hồ Chí Minh




    Giới thiệu tiểu thuyết "Búp sen xanh" của nhà văn Sơn Tùng


    Nhà văn Sơn Tùng sinh năm 1928, tại làng Hoa Luỹ (nay là Kim Luỹ), Diễn Châu, Nghệ An, một vùng đất ngay bên bờ biển. Sơn Tùng lớn lên trong cộng đồng dân chài lấy thuyền làm nôi và tiếng sóng vỗ bờ làm lời ru của mẹ. Chính cái mênh mông, phóng khoáng của biển cả đă hun đúc nên khí phách phóng túng pha chút ngang tàng của Sơn Tùng. Nhưng “gă thuyền chài” ấy lại được giáo dưỡng trong một gia đ́nh nhà nho nghèo có truyền thống "trọng chữ hơn trọng miếng ăn".



    Năm 1941, ở tuổi 16, tràn đầy nhiệt huyết, Sơn Tùng đeo ba lô hoà vào ḍng chảy của cơn lốc cách mạng. Ban đầu ông hoạt động trong phong trào thanh niên, sinh viên thủ đô. Sau khi Hà Nội giải phóng, Sơn Tùng vào học tại trường Đại học nhân dân và sau đó trở thành cán bộ tuyên truyền của Đảng. Năm 1961 ông về viết cho báo Nông nghiệp và từ cuối năm 1962 là phóng viên của báo Tiền phong.

    Năm 1967 ông được điều vào Nam thành lập và phụ trách tờ Thanh niên giải phóng. Năm 1971 ông bị thương nặng và rời chiến trường miền Nam mang trên ḿnh 14 vết thương, 3 mảnh đạn c̣n găm trong sọ năo. Nửa người bên phải hầu như bị liệt, thần kinh chéo bị tổn thương nặng, mắt bên phải bị mờ. Ông được đưa sang Trung Quốc chữa bệnh và được vào viện điều dưỡng 3 năm liền. Sau đó ông xin về nhà và ... luyện khí công. Với nghị lực phi thường, ông khổ luyện từ 2h sáng tới 8h tối, sức khoẻ ông dần dần b́nh phục. Trí nhớ cũng hồi phục dần. Khi tay phải duỗi ra được, chân tập tễnh bước thấp bước cao, Sơn Tùng đă lao vào công việc. Điều đầu tiên mà ông làm là truy t́m cho được tác giả của lá Quốc kỳ mà trong những năm tháng ở chiến trường miền Nam ông đă dày công t́m kiếm. Hàng chục chuyến đi, hàng ngàn giờ lao tâm khổ tứ, cuối cùng ông đă t́m ra được cho chúng ta tác giả Quốc kỳ: Nguyễn Hữu Tiến.

    Một đời viết có duyên, đôi khi, chỉ cần để lại cho đời một câu thơ, một đầu sách, đă là đáng tự hào. Với Sơn Tùng, lẽ dĩ nhiên, ông để lại nhiều hơn thế, dù nhắc đến ông, điều đầu tiên người ta nhắc đến hẳn nhiên là ba chữ Búp sen xanh - một cuốn sách đă để lại nhiều ấn tượng sâu sắc trong kư ức của nhiều thế hệ bạn đọc bởi những trang viết kỹ lưỡng, chân t́nh, xúc động. Không chỉ “Búp sen xanh”, ông c̣n quyết dành trọn cả đời viết của ḿnh cho đề tài gan ruột: Hồ Chí Minh, với cả chục đầu sách: Nhớ nguồn, Kỷ niệm tháng năm, Bông sen vàng, Trái tim quả đất, Bác về, Từ làng Sen, Hẹn gặp lại Sài G̣n, Hoa râm bụt, Sáng ánh tâm đăng, Bác ở nơi đây, Chuyện Bác Hồ cả trăm năm chưa hề thấu ngọn nguồn...

    Với sự cố gắng phi thường, bất chấp bệnh tật, vết thương đau nhói hành hạ mỗi khi trái gió trở trời, từ năm 1974 đến 1990 ông đă cho ra đời 13 cuốn sách bằng tay phải chỉ c̣n 3 ngón co quắp. Tuy nhiên, công bằng mà nói, đề tài mà Sơn Tùng thể hiện thành công nhất vẫn là đề tài lănh tụ, mà đỉnh cao là Búp sen xanh. Đây cũng là công tŕnh mà ông bỏ ra nhiều thời gian và công sức nhất: bắt đầu từ năm 1948 và hoàn thành vào năm 1980. Bằng những chuyến đi không biết mệt mỏi, những cuộc t́m kiếm kiên tŕ, cuối cùng ông đă gặp được bà Lê Thị Huệ để rồi từ những câu chuyện với bà Huệ ở tuổi 80 ông đă tái dựng lại một trong những quăng đời gian khó, nhưng đẹp đẽ và thơ mộng nhất của Chủ tịch Hồ Chí Minh. Phát hiện của Sơn Tùng đă mở ra một bước ngoặt, một cách tiếp cận hoàn toàn mới tới cuộc đời và sự nghiệp của Bác. Năm 1981 Búp sen xanh với 100.000 bản ra đời đă gây một tiếng vang lớn.

    Cuốn tiểu thuyết lần lượt nhận đủ các loại giải thưởng và chuẩn bị tái bản lần thứ 2 th́ không hiểu từ đâu xuất hiện một lời phán: cuốn sách “có vấn đề”. Ngày 23/6/1983, một tờ báo đă dành cả nửa trang phê phán Sơn Tùng dưới tiêu đề Vài ư kiến về Búp sen xanh: "...Không thể nào có một nhân vật Út Huệ yêu Bác, chờ đợi Bác, theo dơi con đường Bác đi cứu nước suốt hàng chục năm mà trong tư tưởng, hành động lại không có biểu hiện ǵ trước phong trào chung của cách mạng cả nước đang phát triển...". Bài báo kết luận: "Điều nguy hiểm hơn là tác giả Búp sen xanh đă gắn sự kiện mối t́nh của Út Huệ và Bác với sự kiện cắm hoa huệ trong nhà sàn của Bác ở Phủ Chủ tịch, và gắn sự kiện đó với câu nói của Bác năm 1962 khi tiếp đoàn cán bộ miền Nam ra thăm miền Bắc: miền Nam luôn trong trái tim tôi". May thay, cuối cùng th́ một kết luận chính thức của cơ quan chức năng “Búp sen xanh không có vấn đề ǵ” đă dẹp bỏ những lời đồn đại và phê phán vô căn cứ đó. Lập tức 100.000 cuốn của lần tái bản thứ 2 đă ra mắt bạn đọc. Rồi mối t́nh của cô Út Huệ với chàng thanh niên yêu nước Nguyễn Tất Thành đă đựơc đưa lên màn ảnh bạc và ngày nay người ta tiếp nhận nó như một lẽ đương nhiên...


    Llévame lejos que cuando estoy contigo parece cerca.


    ...
    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

  2. #2
    FA - Everything will be okay!
    Category Moderator

    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    61.346
    Next Level: 0

    Chương I: THỜI THƠ ẤU

    Phần 1



    1.1

    Cơn dông mùa hạ dấy lên ở phía nam. Mây đen từng khối ùn ùn như nấm từ dưới chân trời đùn lên. Thoáng chốc, các ngọn núi của dăy Dăng Màn (1), Thiên Nhẫn … đă ngập ch́m vào mây đen đục. Mảng nắng hẹp dần. Cảnh sắc hai bờ sông Lam đă ngả màu sẫm. Những bóng mây trôi qua các cánh đồng chiêm đang mùa thu hoạch, loang lổ, mảng sáng, mảng tối, ô xanh, ô vàng, nh́n về xa xa như một tấm da báo trải rộng hút tầm mắt.

    Từ trong khối mây đen dày đặc, thỉnh thoảng quắc lên một roi chớp xanh lè, ngoằn ngoèo rạch sáng vào da trời ch́. Tiếp sau roi chớp là tiếng trời gầm …

    Bên gốc cây đa đầu làng Chùa (2) có mấy con ḅ đứng ngủ, mồm nhai uể oải, những cục bọt trắng xốp đọng hai bên mép. Những con ruồi ḅ bay nhớn nhác tránh né mỗi lần con ḅ quất mạnh cái đuôi vào hai bên hông. Một tốp người đi làm đồng về ngồi nghỉ chân bên gốc đa đang gạ ông Xẩm hát cho nghe một bài mới. Ông Xẩm ngước đôi mắt mù ḷa về phía có tiếng sấm xa xa, hai cánh mũi phập phồng đón nhận mùi hoa sen từ đầm làng đưa tới. Ông nhíu đôi lông mày đen, hỏi những người đang ngồi bên cạnh:

    - Trời sôi bụng hay … hay là tiếng súng của cụ Đ́nh (3) ở trên rừng lại kéo về nữa đó, bà con?

    Qua nhiều giọng cười gịn, ông Xẩm gật gật đầu nghe, vẻ đắc ư với câu nói đáp lại lời ông hỏi:

    - Tiếng sấm của cơn dông chiều đó ông ạ. Trời dạo này loạn dông chứ có cơn mưa nào đâu! C̣n cái công việc “b́nh Tây” của các quan Nghè, quan Cử th́ … vận nước Nam ḿnh hỏng mất rồi! Vua Hàm Nghi đă bại trận, Tây dương (4) đày vua đi biệt xứ. Ôi! Có c̣n chi nữa mà mong với đợi, hở ông?

    Một cụ già, tay vót hom giỏ, từ năy vẫn ngồi im lặng nghe mọi người tṛ chuyện. Bỗng cụ cắm lưỡi mác xuống đất, tựa hai bàn tay lên cán, mắt chớp chớp, nói:

    - Răng lại nhủ là “ có c̣n chi nữa mà mong với đợi” ? Nước có lúc suy lúc thịnh, nhưng có khi mô hết được những bậc hiền tài lo việc giữ nước, việc cứu nước. Cây cổ thụ ni bị găy th́ rồi sẽ có cây khác mọc lên. Rừng không bao giờ hết cây, dân không khi mô hết người tài cao chí lớn mô.

    Mọi người nh́n cụ già vẻ hợp lư. Ông Xẩm đưa ống tay áo lên lau hai hố mắt. Ông vẫn mấp máy cánh mũi về phía ngọn gió:

    - Dịp ni sen nở nhiều. Ngồi ở chỗ mô cũng được ngửi hương sen.

    - Ông ơi - một cô bé gái gọi – cháu biếu ông mấy cái gương sen luộc, ông ăn cho mát ruột ạ.

    Ông Xẩm cầm trong tay những cái gương sen đă luộc chín nhũn như tấm mền ong, giọng cảm động, hỏi:

    - Cháu là con nhà ai mà thảo ăn rứa?

    Cô bé chỉ mỉm cười. Mấy người ngồi cạnh ông già mù nói to:

    - Con gái anh nho Sắc đó, ông ạ.

    Ông Xầm nở nụ cười trên cung môi héo hắt, nói:

    - Ngỡ đứa mô chứ cháu Thanh, con gái đầu ḷng của anh chị nho Sắc, cháu ngoại thầy tú Hoàng (5) th́ … th́ tôi mô có lạ lẫm chi! Để rồi tôi hát cho bà con ở đây và cháu Thanh cùng nghe nhớ.

    Bé Thanh lại đưa ông Xẩm cái bầu nước:

    - Ông uống ngụm nước mát rồi hẵng hát, ông ạ.

    - Cảm ơn ḷng thảo của cháu. Ông không khát. Chứ cháu đem nước ra đồng cho ai rứa?

    - Dạ … cho mệ cháu ạ.

    - Ờ. Vậy ra mệ cháu vẫn chưa ở cữ, c̣n đi làm đồng xa được. Chứ … cháu thích được bồng em gái hay bồng em trai, nói cho ông biết để ông hát mừng cháu nào?

    - Cháu thích mệ cháu sinh em trai nữa ạ.

    Ông già mù gật đầu, mỉm cười, tay lần ṃ lên dây đàn. Mọi người ngồi quanh gốc đa đă xúm xít bên ông Xẩm. Mấy con ḅ vẫn lim dim mắt ngủ, bọt mép tụ tan, tan tụ. Tiếng đàn bầu réo rắt bay lên theo lời ca của ông Xẩm:

    Trời có thấu chăng trời!
    Nước Nam cơ khổ nhiều đời đắng cay
    V́ chưng Tây thổ sang đây,
    Nó vào Gia Định, ở rày Đồng Nai.
    Dần dà ra Lục tỉnh, Đàng ngoài,
    Các quan tâu đánh, vua ngài không cho.
    Bởi v́ vua Tự Đức không biết đường lo,
    Nó vào nó chiếm mất cả thành đô kinh kỳ …


    Bé Thanh chưa hiểu thấu ư nghĩa lời ca, nhưng hai mắt của bé lim dim, bé lắng nghe tiếng đàn ông Xẩm. Những người ngồi cạnh bé Thanh, mặt luôn luôn biến đổi theo từng lời ca của ông Xẩm.

    Trời ơi có thấu lúc này,
    Khắp nơi khổ cực rạc rài tấm thân.
    Một nước làm năm bảy nước ăn,
    Để cho quan Tây bắt phu, bắt thuế trong dân nặng nề.
    Các quan ta tức giận nhiều bề,
    Lập binh tiến đánh Tây th́ cho tan
    Để mà khôi phục nước Nam …


    Đang lúc mọi người đắm vào tiếng đàn năo ruột, lời ca xé ḷng của ông Xẩm th́ một bà tựa tay trên lưng ḅ, chỉ tay về phía đầm sen, gọi:

    - Cháu Thanh ơi! Mệ cháu … Mệ cháu … có chuyện chi … người ta đang d́u mệ cháu về nhà kia ḱa!
    Bé Thanh với cái tuổi lên bảy, dáng mảng khảnh, rời khỏi gốc đa, tay cầm cái bầu nước, chạy hối hả về những người đang d́u mẹ ḿnh. Chạy đến với mẹ nhưng trong đầu bé Thanh vần c̣n vọng theo những ḷi ca của ông Xẩm:

    “… Lập binh tiến đánh Tây th́ cho tan … Để mà khôi phục nước Nam … kẻo dân t́nh cơ khổ gian nan nhiều bề …”

    Dưới bóng tre đầu làng, bà đồ ( vợ ông đồ Hoàng Xuân Đường, bà ngoại của bé Thanh) cùng mấy người đứng tuổi cũng đang chạy ra phía đầm sen. Gió đồng lùa những dải lưng, dải yếm của họ bay phấp phới về phía sau …

    Về tới đầu sân, cơn đau chuyển sinh lại thốn thoáy, mệt quá chị nho Sắc phải ngồi thụp xuống bên gốc cây thị. Chim chiều về tổ đang ríu rít trên ngọn cây. Bà đồ chốc chốc lại mắng yêu con gái:

    - Tham công tiếc việc cho lắm … Đă biểu ở nhà, gần kỳ sinh nở rồi … đừng có đi mần đồng xa nữa …
    Bà giục cô An, em gái của chị nho Sắc:

    - An, con vô quạt than lên … Mau …

    Bà lại giục bé Thanh:

    - … Cháu đi sang bên nhà với ông. Giữ cả em Khiêm ở bên đó. Tối ni tụi bay ăn cơm, ngủ ở bên nhà bà cả nhớ.

    Bé Thanh bước qua dăy chè mạn hảo ngăn đôi sân nhà ḿnh với sân của ông bà ngoại. Thanh vừa nghe tiềng mẹ rên, vừa nghe rơ tiếng ông ngoại ho khúc khắc và tiếng của bố thay ông ngoại đang giảng bài cho học tṛ:

    “ … Các tṛ hăy lắng nghe giảng rồi hăy chép bài sau … Khổng Tử viết: Tự thiên tử dĩ chí ư thứ dân, nhất thị giai dĩ tu thân vi bản. Nghĩa là: Từ ông vua cho đến kẻ thường dân, ai nấy đều phải lấy việc sửa ḿnh làm gốc …”

    Từ bên hè nhà chị nho Sắc, tiếng cô An nói khỏa lấp cả tiếng khóc chào đời của đứa trẻ khiến anh nho Sắc ngừng giảng bài trong giây lát.

    - Ồ ồ … chị nho lại sinh con trai … sinh con trai nữa rồi. Mặt mày sáng láng, khôi ngô lắm.

    Bà đồ quát: “ Cái con bé, có im cái miệng quở độc cháu đi không!” Bà giục rối rít: “ Đưa cái thanh nứa … mau lên … cắt rốn cho cháu. Rồi. Xong rồi … Đưa cái quần cũ của cha mi đây …trên dây phơi ấy. Tao giặt kỹ rồi. Ủ cháu vô quần ông cho có khước … có hơi ấm ông, nó sẽ được sáng dạ, học giỏi hơn ông, hơn cha cho mà coi …”

    Bà c̣n dặn chị nho Sắc: “ Con nhớ là hằng ngày phải chăm lau sạch đĩa đèn rồi hăy đổ dầu thắp. Các cụ thường dạy: Sinh con dạ sáng làu làu, nhớ mẹ ngày trước chăm lau đĩa đèn”.

    Tiếng rên của chị nho im bặt. Tiếng khóc oa oa của đứa bé vẫn chưa dứt hẳn. Và cái ngôn ngữ đầu tiên của đứa bé đă ḥa âm trong tiếng gà gọi con lên ổ, tiếng ḅ gọi bê vào chuồng, tiếng chim kêu ríu rít trên mái nhà, tiếng lá reo, tiếng đồng xa vọng về …

    Hương sen từ ngoài đầm bay theo gió pha lẫn mùi bồ kết cháy từ nồi than trong buồng chị nho Sắc tỏa ra ngào ngạt.


    1.2

    Làng Chùa nḥa trong khói sương lam. Đám học tṛ của cha con ông đồ đă lũ lượt ra về từ lâu. Chúng đi theo lối cổng lớn, không đi tắt qua sân của chị nho Sắc như mọi ngày. Đầu ngơ nhà chị nho đă treo một cành xương rồng gai (6).

    Cái cánh cổng chống làm bằng khung tre kết cành rào, h́nh chữ nhật, đă được sập xuống, cài chặt. Khu vườn nhà ông đồ cũng như mọi nhà khác ở làng Chùa đều đă trở nên một cơi riêng biệt, kín bưng. Giữa cảnh vắng lạnh này nổi lên tiếng ếch nhái kêu gào trời làm mưa cứ ra rả không mệt mỏi. Vô số đốm sáng lập ḷe xanh ảo của bầy đom đóm bay chập chà chập chờn trong tối mênh mông.
    Ông đồ ngồi xếp bằng trên phản gụ, tựa khuỷu tay xuống mặt cái gối cốt bông bọc vải điều gấp cao ba thớt. Anh nho Sắc ngồi đối diện với ông nhạc, vẻ thoải mái. Bé Khiêm ngủ say, nằm sát bên đùi ông, chân duỗi dài sang gần chỗ bố ngồi, ngọn đèn dầu lạc đậu trên mép đĩa tỏa sáng khắp gian nhà. Những con thiêu thân sa vào đĩa dầu vẫy đôi cánh mỏng yếu ớt, chới với …Bên cạnh cây đèn, cái đỉnh trầm thư thả nhả ra những sợi khói thơm mảnh như chỉ. Hương sen ngoài đầm đưa vào nhè nhẹ.
    Anh nho Sắc cầm cái nậm chuyên rượu vào chén cho bố vợ. Ông đồ uống một hơi cạn chén rượu :

    - Mừng cho nhà ta, mừng cho cả họ Nguyễn làng Sen …

    Ông đồ đứng lên, dáng cung kính, thắp năm nén hương, vái năm vái trước bàn thờ gia tiên. Ông đứng nghiêm trang trước làn hương khói. Anh nho Sắc cũng đứng chắp tay thành kính ở phía sau ông. Từ phía đầm sen tiếng chim cuốc khắc khoải: Quốc …Quốc!

    Hai cha con ông đồ trở lại chỗ ngồi. Ông đồ dằn từng tiếng: “Dạ …thính … tử …quy … thốn … tâm … can…” (đêm nghe chim tử quy nhói tim gan). Anh nho Sắc nhận thấy ở người bố vợ, người thầy học của ḿnh từ ngày lâm bệnh, tâm trạng có nhiều trăn trở, nhiều hoài cảm. Anh muốn đứa con trai thứ của ḿnh được ông đặt tên cho. Anh nói:

    - Thưa cha, cha đặt cho cháu đêm nay luôn ạ.

    - Tôi đang nghĩ.

    Ông đồ gơ gơ ngón tay trên mặt gối, nói tiếp :

    - “Sinh con quư tử khó nuôi … trồng cây ngon trái lắm người lăm le…” Con người ta có thể xét đoán được hiệu quả trước của công việc ḿnh sắp làm. Ví như khi ta cầm nắm hạt giống trong tay th́ ta đă dám tin chắc sẽ có những mầm cây mọc lên bập bạp, và nh́n các mầm non xanh tốt đoán biết được cây quả của nó sau này. Cho nên, tôi muốn đặt cho cháu tên là Côn (7), tự là Tất Thành.
    Anh nho Sắc chớp chớp mắt, môi hé nụ cười:

    - Côn … ấy là tích loài cá hóa chim bằng, phải không thưa cha?

    - Chính vậy đó. Theo mong ước của tôi th́ … thằng bé sẽ có chí vùng vẫy bốn bể, dù gặp truân chuyên ch́m nổi, nhưng ắt thành công. Cho nên tự Tất Thành.

    Anh nho Sắc nâng cây bút lông thỏ dúng vào nghiên son. Hương trầm, hương sen như tỏa khắp gian nhà và tụ hội vào ngọn bút Nguyễn Sinh Sắc đang nắn nót ḍng chữ Nguyễn Sinh Côn, tự Tất Thành.


    1.3

    Gió Lào thổi từng cơn dài. Bầu trời, mặt đất bốc mùi nóng khét như sắp sửa bùng cháy. Những cánh đồng khô nẻ hoang hoác, thưa thớt bóng người. Không một con c̣, con vạc đi kiếm ăn trên đồng. Cây cối đói nước đứng rũ rượi. Giữa trời nắng lửa, những con diều hâu sải cánh liệng t́m mồi dưới đất. Quạ khoang, quạ đen bay thành bầy về phía ngàn xanh, nơi đang có tiếng súng của nghĩa quân Phan Đ́nh Phùng.

    Trên các ngả đường quan, đường liên hương từng tốp người đi kiếm ăn, đầu đội nón mê. Trên ḿnh chỉ có chiếc khố dây. Thỉnh thoảng có vài ba bà nhà giàu đi chợ, nón thúng quai thao, váy lụa quét gót, chùm xà tích bạc (8) buông dài song song với các dải yếm, dải thắt lưng màu hoa lư, hoa hiên.
    Anh nho Sắc tay cầm ô che nắng, tay xách một khăn gói vải tây điều đựng đầy những thang thuốc bắc. Ngọn gió Lào từ phía cửa thành ùa đến thổi tung tà áo dài vải thâm đất trên người anh; gió mạnh, cái ô trên tay anh lảo đảo. Anh sải từng bước dài qua cửa Tả đi về phía cửa Tiền. Anh thấy ở phía trước một lá cờ ba sắc phật phờ trên cao. Dưới chân cột cờ , những người che ô đội nón, lác đác có cả những mũ trắng, lố nhố rất đông. Anh định mang thuốc về sớm, nhưng trước việc lạ này, anh rảo bước lại nơi đó. Trên quăng đường gần tới đám hội, cờ đuôi nheo treo hai bên và cờ lá chuối cắm ṿng quanh khán đài rực rỡ.

    Anh nho Sắc dừng lại ở ngoài cổng chào tết bằng lá dừa, trang trí hoa cờ, đèn lồng. Trên cổng cao gắn bốn chữ cao cỡ to, xếp lối chữ triện: “Đại Pháp vạn tuế”. Từ bên trong cổng chào, tiếng kèn thổi oang oang chói tai, khác hẳn tiếng đàn đáy, đàn bầu mà anh đă quen thuộc. Một người mặc đồ sang trọng, treo trước ngực một mảnh giấy điều h́nh đuôi én, chữ vàng: “ Quốc khánh đại Pháp”. Ông ta tiến đến, ch́a tay:

    - Xin mời huynh vô dự ngày lễ đại khánh của Pháp quốc.

    Anh nho Sắc chẳng ưa ǵ cái tṛ này của bọn thực dân Pháp và lũ quan lại làm tay sai cho chúng, nhưng anh cần nh́n tận mắt cái việc chúng đang bày ra giữa quê hương ḿnh. Anh vừa bước vào trong cái cổng chào, một con mụ người Pháp mũi diều hâu, mắt mèo, tóc lông ḅ rừng, váy hoa dài lệt bệt phồng to như cái nơm, áo hở ngực, lồ lộ dây chuyền vàng quấn cổ, hai cổ tay hai ṿng ngọc biêng biếc xanh, chân đi giày gót cao nghều, bước vội đưa cho anh một gói vuông bọc giấy đỏ, bên trong có chữ: “ Đại Pháp vạn tuế”. Mụ đầm nói, anh nghe như tiếng chim tiếng vượn. Anh chẳng hiểu ǵ nhưng bất giác anh cứ cầm lấy gói quà từ tay mụ đầm. Một người thông ngôn đứng tuổi nói với anh:

    - Bà lớn phát quà nhân ngày quốc khánh của nước Đại Pháp. Mời anh vô dự lễ và nghe hiểu thị.
    Một tay xách khăn gói đầy thuốc bắc. Một tay cầm gói quà của mụ đầm đưa và cái ô ngoắc vào khuỷu cánh tay, anh nho Sắc bước từng bước nặng trĩu. Giữa tháng bảy nhưng là tháng năm âm lịch, nắng xế chiều gay gắt. Cả đám người đứng chen chúc dưới bóng rạp mái bằng. Những người đứng ṿng ngoài đều phải dương ô, đội nón. Anh nho Sắc lách vào mé rạp, ngó lên phía khán đài. Một đám quan lại áo thụng, khăn chít ngồi khép nép ở mấy dăy ghế đầu. Một tên Tây cao lớn mặc đồ nhà binh, hai cầu vai gắn sắc hàm sĩ quan có ngù lua tua phủ xuống. Cả khuôn mặt hắn như nhuộm phẩm điều do nắng hè của cái xứ nhiệt đới này phả cháy. Anh nho Sắc vừa nh́n hắn chằm chằm, vừa lắng nghe tên thông ngôn nói giọng Nam Kỳ: “Cái xứ An Nam này đă chịu ân sâu nghĩa nặng của nước Đại Pháp từ thời chúa Nguyễn ở đàng trong bị giặc áo vải Tây Sơn đánh bật ra tận đảo Côn Lôn … Nước An Nam nầy mà không có sự giúp đỡ của Đại Pháp thời cái họa nội chiến giữa Đàng trong với Đàng ngoài không thể chấm dứt được. Và nếu không sớm có mặt người Pháp thời cái xứ sở hẻo lánh, tối tăm này đă bị người Bồ Đào Nha hoặc người Hà Lan hay người Anh chiếm đóng rồi. Hỡi các ngài tại mắt xứ An Nam! Hăy nhận ra sự có mặt của người Pháp ở đây là một duyên may hiếm có …”.

    Càng nghe nhiều những lời khoe khoang sức mạnh, hăm dọa, mạt sát, dụ dỗ … của tên Pháp thực dân, anh nho Sắc càng thấy nhói đau, mặt cứ tối sầm lại. Anh lẳng lặng ra về. Anh lê từng bước nặng nề ra khỏi thành Vinh. Ngay trên lối về huyện lỵ Nam Đàn, một đám người ăn xin c̣n ngồi trốn nắng dưới bóng cây. Anh mở cái gói quà của ngày Quốc khánh Pháp mà mụ đầm đưa cho anh – toàn là bánh, kẹo được bọc giấy bóng, giấy bạc - đem phát tất cả cho đám người đang đói lả bên lề đường. Anh tự nhủ: Tây dương đă an tọa thế ấy th́ quân quan Phan Đ́nh Phùng, quan Tôn Thất Thuyết dù cố sức mấy cũng khó ḷng chuyển được vận nước đang suy!

    Trên đường từ thành Vinh về làng Chùa, anh nho Sắc đeo đuổi bao nhiêu ư nghĩ ngổn ngang. Anh lo sức khỏe của bố vợ đang ngày một sa sút. Vợ anh sinh lần này bị mất sữa và bị bệnh hậu sản. Anh đă cắt hàng chục thang thuốc cho vợ uống, bệnh có thuyên giảm, nhưng vẫn khôn có sữa cho con bú. Bé Côn vừa phải đi bú nhờ vừa phải ăn cơm bà ngoại mớm cho.

    Điều trăn trở lớn nhất trong ḷng anh nho Sắc: Biết mất nước mà không lo việc cứu nước là phạm điều bất trung. Nhưng khốn nỗi, gánh gia đ́nh của anh quá nặng. Mới hăm bảy tuổi mà đă ba con. C̣n là cậu học tṛ, chưa có khoa cử ǵ. Đă nhiều đêm anh và bố vợ ngồi đàm luận việc nước việc nhà cạn mấy đĩa dầu. Anh thường suy nghĩ về những lời bố vợ nói: vợ chồng anh sinh ra giữa thời buổi bọn bạch quỷ đến hà hiếp nhà vua, nhưng nước nam ta chưa mất hẳn cho Tây - lang – sa (9). Đến thời các con của anh ra đời th́: Bé Thanh sinh năm Giáp Thân. Năm đó nhà vua đă kư ḥa ước giao cả nước ta cho người Tây - lang - sa cai trị ( tức năm 1884 kư ḥa ước Pa - tơ - nốt công nhận quyền đô hộ của Pháp ở Việt Nam). Sang năm Ất Dậu, Tây – lang – sa đă cử quan “đầu triều” (10) sang ngự trị bên cạnh nhà vua nước Nam. Rồi quan quân thần Tôn Thất Thuyết phải rước vua Hàm Nghi lánh ra đồn trú ở vùng rừng núi Quảng Trị, Quảng B́nh và xuống chiếu Cần Vương. Đến lượt bé Nguyễn Sinh Khiêm ra đời, năm Mậu Tư (1888), vua Hàm Nghi bị sa vào tay giặc! Ôi! Vua đă bị Tây - lang – sa đày đi biệt xứ tận nước người (11). Tây – lang – sa lại đưa Đồng Khánh lên ngôi. Người ta truyền rằng, trước lúc bọn Tây - lang – sa đày vua Hàm Nghi đi, chúng c̣n dụ dỗ, mua chuộc đủ phương kế, nhưng nhà vua không chịu khuất phục, nhận việc đi đày chứ không cam chịu nhục để trở lại ngai vàng! Chúng nó thay vua th́ cũng đổi “quan Tây đầu triều” khác sang nước ḿnh cai trị. Cái tên của nó ngoằn ngoèo khó nhớ, khó gọi … H́nh như là Bè hay Buôn bè (12), rồi ǵ ǵ ấy nữa kia. Năm nay, bé Côn ra đời, lại một tên “quan Tây đầu triều” khác đến cai quản xứ ḿnh. Thế cuộc xoay vần như vậy đó! Các con anh sinh ra giữa lúc nước ta đă mất hẳn cho bọn bạch quỷ rồi! Đất nước ta đang đắm ch́m vào đêm tối. Những anh hùng nghĩa khí dám xả thân cứu sơn hà xă tắc đều bị thất bại! Ôi! Dân Nam ta khác nào đàn gà con đă bị diều hâu cướp mất mẹ!...

    Anh nho Sắc mải miết nghĩ suy về những điều tâm sự của bố vợ, người thầy, mà cũng chính là tâm trạng anh trước bối cảnh “quốc loạn, gia bần”. V́ mải nghĩ quên cả đường dài. Lúc về gần đến cây đa đầu làng anh mới nhận ra ḿnh đă đi sắp đến nhà. Nỗi lo về bệnh t́nh của bố vợ, về cảnh vợ bị ốm, mất sữa lại dấy động trong ḷng anh. Và trước mắt anh chập chờn h́nh ảnh khoa thi Hương (13) sắp đến.

    Anh rẽ sang con đường ṃn đi tắt về phía đầm sen để bà con ngồi gốc đa hóng mát nghe ông Xẩm đàn hát được tự nhiên.

    Bên đầm sen, trước lối vào nhà, anh dừng bước đón nhận làn hương mát. Giữa đất trời khô cháy bao la, đầm sen như mặt gương xanh làm dịu bầu nóng hạ. Những bông sen trắng, sen hồng đua sắc khoe màu với đàn ong đi kén mật. anh chợt nghe trong sân nhà có tiếng bé Nguyễn Sinh Khiêm đang nựng em, nói chệch âm v́ chưa thật rơ tiếng: “ Anh cho eng (em) Côông ( Côn) cái búp sen ń … Búp sen xanh, đẹp … đẹp lắm em ạ ...”

    Anh nho Sắc đi thẳng vào nhà lớn, nơi ông nhạc nằm dưỡng bệnh. Chị nho Sắc đă gượng dậy được, đang bế bé Côn ngồi dưới gốc thị, mớm cơm cho con.

    ----------------
    Chú thích:

    (1) Trên dăy Trường Sơn, đoạn qua địa phận Nghệ Tĩnh.
    (2) Tên chữ là làng Hoàng Trà
    (3) Ở đây chỉ nghĩa quân của Phan Đ́nh Phùng, cụ Đỗ Đ́nh Nguyên, thường người ta gọi là cụ Đ́nh.
    (4) Chỉ thực dân Pháp.
    (5) Chỉ ông Hoàng Xuân Đường.
    (6) Tục lệ ngày xưa, nhà có người mới sinh thường treo ở đầu ngơ một cành gai to để người lạ không tự tiện vào nhà, sợ đứa bé bị mặc vía dữ.
    (7) Theo cụ Nguyễn Sinh Khiêm kể và ghi trong Tất Đạt tự ngôn, trang 81
    (8) Một loại dây bằng bạc, con gái nhà giàu dùng để đeo ch́a khóa ḥm, ống đụng thuốc lào ăn trầu, nhưng thường có ư nghĩa trang điểm là chính.
    (9) Chỉ thực dân Pháp.
    (10) Khâm sứ Ray-no (Rheinort)
    (11) Nước An-giê-ri, một thuộc địa của Pháp lúc đó.
    (12) Pôn Be (Paul Bert)
    (13) Khoa thi chọn cử nhân

    Llévame lejos que cuando estoy contigo parece cerca.


    ...
    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

  3. #3
    FA - Everything will be okay!
    Category Moderator

    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    61.346
    Next Level: 0

    Phần 2



    2.1

    Ba cha con ông Sắc trở lại kinh đô Huế với những tên gọi mới : quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy và hai con là Nguyễn Tất Đạt, Nguyễn Tất Thành.

    Hôm vừa bước chân đến Huế, hai anh em Tất Đạt và Tất Thành theo cha đi viếng mộ mẹ và em Xin. Tất Thành cùng anh trồng lên mộ mẹ, mộ em hai cây đại.

    Những ngày đầu vào Huế, chưa t́m được chỗ ở, quan Phó bảng Huy tạm gửi Tất Đạt đến ở nhờ nhà một người bạn, c̣n ông cùng với Tất Thành ở nhờ trong nhà ông Phạm Khắc Doăn, người xă Đức Trường, huyện Đức Thọ, Hà Tĩnh, làm quan biên tu Quốc sử quán.

    Sau gần bốn năm xa kinh đô Huế, nay trở lại, Nguyễn Tất Thành có nhiều ngỡ ngàng : Cầu Thành Thái (Tràng Tiền) hai đầu gục xuống ḍng sông, nhịp giữa đă bị cơn băo Giáp Th́n (1904) cuốn đi. Người ở hai bên bờ sông Hương đang c̣n phải qua lại bằng đ̣ ngang. Thành và anh trai đứng bên bờ Bắc ngẩn ngơ nh́n sang bờ Nam sông Hương : từng dăy, từng dăy nhà mới mọc lên nguy nga, thành một khu vực đồ sộ, được gọi là "khu nhà người Tây". Cái khu nhà người Tây ở, ṭa khâm sứ Trung Kỳ, ṭa công sứ tỉnh Thừa Thiên... nổi bật lên vẻ kiêu ngạo, thách thức trước cảnh trí thơ mộng của Huế. C̣n bên này sông Hương th́ vẫn y nguyên một kinh thành cổ kính rêu phong...

    Đi cùng với anh trai trên dọc đường thành, Nguyễn Tất Thành đang suy nghĩ về những ṭa nhà hành chính của người Pháp đè lên cưng thành vua nhà Nguyễn th́ lại gặp người hát dạo. Tiếng đàn, giọng ca lại gợi anh nhớ tới ông Xẩm ở quê nhà. Và, bên tai anh cứ văng vẳng lời ca mà anh thuộc từ mười năm trước :

    Nước Nam ta sao lại có Tây..

    Trên dọc đường anh gặp người Tây nhiều gấp bao nhiêu lần so với trước...Có cả những tên Tây say vừa đi vừa gây sự với các cô bán hàng trên hè phố. Ḍng sông Hương cũng đổi khác : Thuyền buôn tấp nập hơn, mà đ̣ kỹ nữ (60) đón khách làng chơi đông cũng chẳng kém thuyền chài, thuyền buôn...

    Tất Thành cảm thấy ở đất "thần kinh" này đang có một sự chuyển động âm ỉ ở bên trong, anh muốn nói ra cái điều ḿnh đang nghĩ với anh Tất Đạt, nhưng lại sợ tính anh trầm lặng và không thích bàn bạc những việc thời thế.

    Quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy nhận chức thừa biện Bộ Lễ. Tại đây, ông gặp lại quan Phó bảng Phan Chu Trinh, người bạn cùng thi Hội khoa Tân Sửu (1901). Phan Chu Trinh đă đăng tờ biểu (đơn) xin cáo từ chức thừa biện Bộ Lễ. Ông đă công khai lên án bộ máy quan lại thối nát, cam tâm làm tay sai cho người khác. Ông diễn thuyết ngay trong trường Quốc tử giám và trước những thí sinh từ các miền trong nước mới về kinh đô Huế dự thi Hội khoa Giáp Th́n (1904). Ông kêu gọi những người tai mắt phải ngẩng cao đầu, đi tiên phong trong công cuộc xây dựng dân quyền, nâng cao dân trí, dân sinh... Tiếng nói của ông cùng với Lưu cầu huyết lệ tâm thư (lá thư viết bằng máu và nước mắt) của Phan Bội Châu đang gây chấn động cả kinh thành và lan rộng về các miền xa của đất nước. Nghe danh tiếng của hai nhà chí sĩ họ Phan, nhiều bậc danh nho, khoa bảng ở các nơi về Huế tiếp kiến. Từ Phan Thiết, đất cực Nam Trưng Bộ, ông Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội ra Huế gặp Phan Chu Trinh. Phan Bội Châu đă rời Huế v́ ông không đồng quan điểm với Phan Chu Trinh. Quan nghè Trần Quư Cáp, quan nghè Huỳnh Thúc Kháng, quan đốc Đặng Nguyên Cẩn, quan nghè Ngô Đức Kế... đều cùng quan điểm với quan Phó bảng Phan Chu Trinh. Cho nên quan đốc Cẩn, quan nghè Kế đă lập ra Triêu Dương Thư Quán ở Vinh. Ông Hồ Tá Bang, Nguyễn Trọng Lội (con trai đầu của nhà thơ yêu nước Nguyễn Thông), hai nhà hằng tâm hằng sản tham gia tổ chức Hội Duy Tân, đă cùng các ông Nguyễn Quư Anh, Trần Lệ Chất, Nguyễn Hiệt Chi, Ngô Văn Nhượng lập ra công ty Liên Thành thương quán và trường Dục Thanh tại Phan Thiết.

    Quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy tham dự nhiều buổi b́nh văn. Ông đă để lại trong tâm trí giới sĩ phu yêu nước một câu nói nổi tiếng : Quan trường thị nô trung chi nô lệ hựu nô lệ (61). Ông Lê Văn Miến, một giáo sư nổi tiếng của trường Quốc học, qua những buổi b́nh văn đă bắt gặp được tiếng nói tri âm ấy và đă kết bạn đồng tâm với quan thừa biện Nguyễn Sinh Huy...

    Từ ngày đầu đến ở nhờ, Tất Thành đă được vị quan biên tu Quốc sử quán họ Phạm chú ư.

    “Lưỡng mục minh tinh" (62) Nh́n đôi con mắt của Tất Thành ông nhớ lại dịp Thành qua Hà Tĩnh chơi, nhiều người truyền đi những lời đồn về sự sáng dạ, sự tinh anh và khẩu khí như gấm hoa của anh, lúc ấy ông chưa tin lắm. Bây giờ nh́n kỹ đôi con mắt của Tất Thành, ông nói : Mắt là kho báu của con người ta. Cho nên, dân gian mới nói: "Giàu hai con mắt".

    - Nghĩa là được nhiều tiền nhiều của là do ở hai con mắt, hả cha? - Phạm Gia Cần, con trai ông Phạm Khắc Doăn, hỏi.

    Ông Phạm Khắc Doăn nh́n con cười :

    - Con trai cửa cha chỉ hiểu được cái nghĩa hẹp của câu tục ngữ luận về đôi mắt của con người. Cái chữ “giàu” của đôi con mắt nghĩa của nó rộng lắm con ạ. Càng giải thích, nghĩa của nó càng lớn ra. Tùy ở mức hiểu biết của mỗi người đến đâu th́ sẽ nhận ra được ư nghĩa của nó tới đó. Với lứa tuổi của con, chưa từng trải việc đời, cha chỉ có thể nói cho con hay cái nghĩa chữ “giàu” của đôi con mắt là giàu về tài năng, giàu về vốn hiểu biết ở đời, giàu về đức độ. Và - ông nhấn giọng - người thiện nhiều hay ác nhiều cũng đều lộ ra ở hai con mắt...

    Nghe cha giảng giải, cậu ấm Cần bắt đầu quan sát kỹ cậu ấm Thành... Rồi qua những ngày chung sống trong nhà, Cần càng nhận ra dần dần ở Thành giàu những đức tính tốt đẹp và sự thông minh sáng láng khác thường.

    Bữa cơm "khách" đầu tiên, ăn xong Thành tự đi lấy tăm đặt lên miệng chén trà cho từng người. Thành thu dọn bát đĩa và đi rửa. Cần cảm động, ngăn lại :

    - Thành đừng mó tay vô công việc ni. Đến bàn uống nước, để ḿnh làm cho.

    - Việc ni để em làm phải hơn. Ngoài hai ông bố ra chỉ có anh và em thôi. Em ít tuổi hơn anh, em nhận việc rửa bát, anh làm việc khác.

    Quan biện tu Quốc sử quán Phạm Khắc Doăn nh́n cậu ấm Thành dọn bát đũa, gật đầu, nói :

    - Cần hăy xem, em Thành nó sắp bát ư tứ chưa ḱa? Cách sắp xếp ấy th́ dù có chồng cao lên mấy cũng khó đổ. Lần trước con đánh vỡ cả chồng bát cũng chỉ v́ xếp trên to dưới nhỏ...

    Đến ở ngày hôm trước, hôm sau Thành đă đi chợ đong gạo, mua thức ăn. Thành biết rành từng loại gạo cơm ở chợ Đông Ba như gạo lốc dâu, gạo chăm, gạo ré, gạo hẻo... Anh nói với Cần :

    - Những thứ gạo này vừa dẻo, vừa thơm và ngọt mà lại hợp túi tiền của anh em ḿnh. Ở Huế có rất nhiều thức ăn tươi ngon. Chịu mất công một tí và chịu để ư học cách làm món ăn của các bà, các chị th́ sẽ được ăn ngon miệng mà lại không tốn tiền lắm. Đặc biệt có món cá bống kho khô, rắc tiêu, ăn với canh rau tập tàng ngon tuyệt, anh ạ.

    Phạm Gia Cần ngạc nhiên, hỏi :

    - Thành vừa vô tới đây sao đă thuộc đường, quen chợ và lại thạo mọi việc nội trợ hơn cả những cô gái con nhà tần tảo vậy?

    - Mười năm trước đây, em đă từng ở với cha mẹ em trong thành nội, xung quanh khu vực hoàng thành và vùng ngoại vi Huế em quen thuộc cả. C̣n việc thạo chợ búa, nấu nướng là do mệ em và chị Thanh của em bày vẽ cho. Có lúc em đă phải lo liệu mọi việc trong nhà v́ cha đi vắng, mệ ốm nặng. Vả lại, biết làm việc ǵ là có ích cho ḿnh, anh Cần ạ.

    Phạm Gia Cần vẻ mặt trầm ngâm, nói thủ thỉ :

    - Từ hôm Thành đến ở chung, cha ḿnh luôn luôn tấm tắc : "Có con mắt; có bàn tay cậu ấm Thành, nên nhà sân, vườn đă phong quang ra, đồ đạc được gọn gàng ngăn nắp đâu vô đó...". - Cần hạ giọng, chân thành : - Ở gần Thành, ḿnh học hỏi được nhiều thứ, nhất là cách đọc sách.

    Thành nói luôn :

    - Cha em và thầy Vương Thúc Quư dạy em cách đó. - Hai mắt nh́n vào xa xăm, Thành hồi tưởng: - C̣n nếp sống trong nhà là bà ngoại em rèn cặp cho từ lúc ba chị em c̣n nhỏ, quấn quưt bên chân bà.


    2.2

    Xong tuần tang bố vợ, anh nho Sắc gầy rộc như qua một trận ốm. Chị nho Sắc và cô An th́ phải bắt tay ngay vào công việc : ngày đi làm đồng, tối dệt vải quá nửa đêm mới đi ngủ. Số tiền tốn kém vào việc ma chay tuy được những học tṛ, bạn hữu phúng điếu nhiều, nhưng chẳng thấm tháp, cho nên mẹ con bà đồ phải lấy công dệt vải để trang trải. Phần th́ kỳ thi Hương cũng không c̣n xa nữa, cả nhà bà đồ đều lo lắng, mong đợi nhiều ở anh nho Sắc trong kỳ thi này.

    Từ ngày ông đồ mất, vợ chồng anh nho Sắc về ăn chung với bà đồ. Ngôi nhà tranh ba gian của ông bà đồ dựng lên cho vợ chồng nho Sắc ra ở riêng nay tạm cho những chị em làng Chùa mượn làm nơi nhóm phường kéo sợi. Những đêm trăng, từ mái nhà này những điệu ví dặm được cất lên cùng với tiếng xa quay...

    Một hôm, có mấy người bà con bên họ ngoại của bà đồ đến dự lễ đốt vàng mă cho ông đồ nhân tết "xá tội vong nhân" rằm tháng bảy. Khách ở lại nghỉ đêm. Bà đồ ngồi ở giữa giường. Ba chị em bé Thanh, Khiêm, Côn ngồi vây quanh bà nghe bà kể chuyện với khách. Trăng rằm sáng như ban ngày. Những khóm cúc ngoài cửa sổ ngả bóng vào trang sách của anh nho Sắc đang học. Chị nho Sắc th́ ngồi dệt trên khung cửi ở gian nhà đầu hồi phía Tây. Cô An đi quay sợi với phường vải bên nhà chị nho Sắc.

    Mấy người khách cứ tấm tắc khen :
    - Bác có được người con rể như anh nho Sắc thật là quư hóa.

    Bà đồ đă từ lâu được ấm ḷng về điều ấy. Cho nên bà nhắc lại chuyện cũ với một giọng hối hận :
    - Vợ chồng nhà nho đă có ba mặt con. Ấy vậy mà cái bụng của tôi vẫn chưa hết áy náy về cái tích tôi không muốn gả con Loan cho nho Sắc.

    Bà mời khách ăn trầu. Bé Thanh và bé Côn tranh nhau được giă trầu giúp bà. Bé Khiêm th́ ngồi ĺ x́, nghịch tṛ xếp những thứ trong cơi trầu thành ô, thành h́nh khối... Bà đồ vẫn cái giọng đều đều:

    -Ngay lúc ông nhà tôi đón nho Sắc về nhà này, quần áo lấm lem bùn đất, tóc đỏ hoe như râu ngô khô, mặt mũi đen nhẻm, chỉ có hai con mắt sáng tinh anh, cặp lông mày dài mượt lộ rơ một đứa trẻ có tướng mạo. Tôi thương nó như con đẻ từ bữa ấy kia. Hơn mười năm nho Sắc ăn học trong nhà ni, tôi không hề chê nổi một tí chi về đường ăn nết ở cả. Nhưng khi ông nhà tôi đưa ra cái việc gả con Loan cho nho Sắc là tôi không thuận bụng. Tôi đâu có tính chi cái chuyện "môn đăng hộ đối" mà sợ miệng thế gian cười chê rằng con gái nhà có danh có giá mà hư đốn để bố mẹ phải gán luôn cho đứa con nuôi đă ăn ở trong nhà. Được cái, ông nhà tôi đă quyết là làm... Ông đă xuống tận quê ngoại thưa chuyện ni với cha mẹ tôi. Ông c̣n mời cả họ Hoàng lại để ông thưa việc ông gả con gái đầu ḷng cho nho Sắc...

    Đối với ba chị em Thanh, Khiêm, Côn th́ đây là lần đầu tiên được nghe bà ngoại nói kỹ về bố mẹ ḿnh.

    ----------------
    Chú thích:

    (14) Vương Thúc Quư.
    (15) Phan Bội Châu.
    (16) Chẳng.
    (17) Khoảng 9 giờ sáng

    Llévame lejos que cuando estoy contigo parece cerca.


    ...
    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

  4. #4
    FA - Everything will be okay!
    Category Moderator

    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    61.346
    Next Level: 0

    Phần 3



    3.1

    Không ai c̣n nhớ được người đầu tiên của ḍng họ Nguyễn Sinh đến làng Sen khai cơ lập nghiệp. Người ta chỉ c̣n nhớ rằng, từ buổi làng Sen c̣n là trang trại đă có người họ Nguyễn ở sinh sống. Hồi bấy giờ c̣n gọi là Trại Sen, v́ có nhiều đầm sen rộng bát ngát. Sen nhiều đến nỗi có những tên : Đồng Sen, Cồn Sen, Đầm Sen, Giếng Sen...

    Do có nhiều sen, cảnh trí trong làng, ngoài đồng lại đẹp nên Trại Sen đổi tên thành làng Mỹ Liên. Về sau các cụ lại đổi là Kim Liên.

    Nhất vui là cảnh Kim Liên
    Cảnh tiên có cảnh, người tiên có người.


    Cái thuở ấy, làng Sen gồm có năm phường : phường Giữa (xóm Đông Lĩnh), phường Phú Đầm (xóm Nam Lĩnh), phường Cơn Trôi (xóm Tây Lĩnh), phường Thượng (xóm Thượng Thọ), phường Ngoài (xóm Trung Ca, v́ dân xóm này hát xướng giỏi, có phường hát nhà tṛ).

    Lúc về ở Trại Sen, họ Nguyễn chưa đệm chữ Sinh. Qua gia phả của một nhánh họ th́ : "Hoàng sơ tổ khảo là Nguyễn Bá Phụ. Tiếp đến đời Nguyễn Bá Bạc, đời Nguyễn Bá Ban, đời Nguyễn Văn Dân. Bốn vị tổ này không ghi rơ sinh về thời nào. Đến đời ông Nguyễn Vật bắt đầu lót đệm chữ "Sinh", ông là giám sinh, triều Lê Thánh Đức, năm thứ ba. Kế đến, ông to đời thứ sáu là Nguyễn Sinh Trí mới mười bảy tuổi đă đậu hiếu sinh. Đến năm ba mươi tư tuổi, ông đậu tam trường khoa thi Hội".

    Họ Nguyễn Sinh giàu và có khoa cử đời ông tổ thứ năm, thứ sáu. Đến đời thứ mười là Nguyễn Sinh Nhậm vẫn ở lại phường Phú Đầm, một phường nhiều đầm sen nhất Trại Sen. Ông Nguyễn Sinh Nhậm vào bậc trung lưu của làng Sen. Ông lập gia đ́nh sớm nhưng hiếm con, khi sinh hạ được một người con trai tên là Nguyễn Sinh Trợ, tên chữ là Thuyết th́ bà Nhậm chết. Ông Nhậm ở vậy nuôi con cho đến tuổi thành niên và lập gia đ́nh riêng cho con trai rồi mới lấy vợ kế. Ông cưới bà Hà Thị Hy, một cô gái có tài hoa, nhan sắc bị quá lứa ở làng Sài, cùng một xă Chung Cự, tổng Lâm Thịnh với làng Sen.

    Hà Thị Hy là con gái một nghệ nhân nổi tiếng về ngón đàn đáy, đàn bầu. Nhà giàu có, thuộc loại nhiều ruộng nhất của làng Sài. Ông ham học chữ "thánh hiền", nhưng không màng chuyện thi cử. Trong nhà luôn luôn nuôi thầy dạy học. Năm ông đă hai thứ tóc c̣n nuôi cử nhân Hồ Sĩ Tạo dạy cho các con cháu và ông học thêm. Ông c̣n nhóm lên trong nhà ḿnh một "phường hát ả đào". "Phường hát ả đào" của ông chỉ để làm vui trong gia đ́nh, trong họ hàng và những bà con có đám cưới, đám ăn mừng thượng thọ.

    Hy được cha yêu quư, truyền cho tất cả vốn hiểu biết về đàn, phách và ca trù. Cô lại c̣n có biệt tài về múa đèn. Khuôn mặt "trăng rằm", lông mày cong vành bán nguyệt, mắt lá đào, mũi thon dài, môi cắn chỉ, cổ ba ngấn, lưng ong, cô dang thẳng hai cánh tay h́nh chữ thập trên đôi cánh tay ấy đặt mỗi bên ba đĩa đèn, và trên đầu cũng đội ba đĩa đèn đầy dầu, thắp sáng. Cô múa dẻo như con rắn luồn qua những cành cây mà dầu trong đĩa không sánh ra ngoài, đèn không tắt một ngọn nào. Nhiều bà con trong làng khâm phục tài múa đèn của cô đă gọi cô là cô Đèn. Nhưng, không ít người ngầm coi cô là "xướng ca vô loài". Những nhà giàu có không muốn dạm hỏi cô về làm dâu. Những nhà không bằng nhà bố mẹ cô th́ lại sợ không "môn đăng hộ đối".

    Một buổi trưa hè. Gió Lào phả cái nóng vào mọi chốn mọi nơi trên đất làng Sài. Một nhóm con trai ra đầu làng ngồi mát, đan rổ rá. Cô Đèn đi chợ xa về. Cô mặc váy lụa, bốn dải lưng xanh, dây xà tích, áo dài vải Đồng Lầm lấp ló cổ áo trắng, yếm thắm, vấn khăn nhung, tóc thả đuôi gà. Cô đi từ ngoài đường hàng huyện trở vào làng. Cô quẩy đôi thúng đậy hai cái mẹt kín bưng, trên mẹt có một chồng bánh đa. Vừa đi chớm tới bóng râm đầu cổng làng, thấy đông người đang ngồi mát dưới gốc cây, cô đă cố ư đi nép vào ria đường làng. Bất thần, một anh chàng giơ tay đụng vào vai cô và nói giọng chớt nhả. Cả đám trai làng cười ồ lên. Cô Đèn mặt đỏ bừng, hai con mắt lá đào quắc sáng như hai ngọn đèn, mắng : "Cái hạng các anh không đáng đụng đến gấu váy của tôi đâu”. Như lửa bị giội nước, mọi người mặt ngay cán tàn ngồi im như phỗng đá. Cô Đèn đă đi khuất sau bờ tre, đám trai làng mới hỏi nhau :

    - Con Đèn chượi (chửi) người trêu nó hay chượi cả bọn chúng ḿnh ngồi đây hề?
    - Hắn gọi "cái hạng các anh", rứa là hắn nhủ cả đám chúng ḿnh.

    Từ cái hôm ấy, tất cả con trai chưa vợ ở làng Sài "ăn thề" với nhau : Không ai được hỏi cô Đèn làm vợ. Nếu con trai ở làng khác đến làng Sài dạm hỏi cô Đèn th́ đón đường đánh. Cuộc trả thù này đă hăm duyên cô Đèn cho tới năm cô đă ba mươi tuổi mà vẫn chưa lấy được chồng. Có người gợi ư với bố cô Đèn nên soạn một cơi trầu, một bầu rượu mời đám trai làng đèn, xin lỗi để họ xá cho... Ông đă bàn với con gái cái điều ấy. Nhưng cô Đèn vẫn một mực không chịu nhún ḿnh với đám trai làng. Khi ông Nguyễn Sinh Nhậm từ làng Sen đánh liều sang xin ăn hỏi cô Đèn, trai làng Sài họp lại bàn luận... Họ xót xa cho cô Đèn : Một người con gái tài hoa, nhan sắc nhất làng mà phải chịu cái "án treo" quá lứa, lỡ duyên, nay phải đi làm vợ kế của một người làng khác! Chúng ta không nên ngăn cản nữa. Đọ gươm khi c̣n trên yên, đừng chém theo lúc người đă ngă ngựa!

    Trai làng Sài đă dựng một cổng chào ở đầu làng trên con đường đi sang làng Sen. Họ c̣n nhờ cử nhân Hồ Sĩ Tạo làm cho một bài văn chúc. Lúc đám rước dâu tới cổng chào, trai làng Sài bận quần trắng, áo dài, đội khăn, đứng thành hai hàng. Một người có giọng b́nh văn hay bước ra đọc bài chúc. Họ nhà trai đă đáp lễ mười quan (18) tiền đồng, một ṿ rượu tăm và một cái thủ lợn.

    Cô Hy về làm bạn với ông Nguyễn Sinh Nhậm được ít lâu th́ năm Quư Hợi (1863) sinh con trai. Ông Nhậm đặt tên cho con là Nguyễn Sinh Sắc. Cuộc sống của gia đ́nh rất êm ấm. Nhưng niềm hạnh phúc của mẹ con cô Đèn đă tắt phụt như ngọn đèn trước gió : Nguyễn Sinh Sắc mới lên ba th́ ông Nguyễn Sinh Nhậm chết. Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, ông Nhậm gọi cả hai người con trai, người con dâu đến bên giường và căn dặn vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết : "Cha phải hai lần xây dựng bạn trăm năm mà cũng mà cũng chỉ được có hai mụn con trai. Cha những mong có đôi ba lần sinh nữa cho đông anh đông em, cũng như rừng nhiều cây băo tố không xô ngă được. Không ngờ cha phải sớm từ giă các con. Tội nhất là em Sắc của các con c̣n quá bé bỏng. Mẹ kế của các con th́ tuổi trẻ chưa qua! Cho nên vợ chồng con phải thay cha giúp mẹ kế của các con nuôi em Sắc nó nên người, mà điều hệ trọng là làm sao cho bé Sắc có năm ba chữ thánh hiền. Điều mong muốn cuối cùng của cha là : Dầu cha đă khuất, các con phải kính trọng người mẹ kế của các con như lúc cha đang tại đường. (Ư nói như lúc c̣n sống)".

    Sau ngày ông Nhậm qua đời, vợ chồng ông Nguyễn Sinh Thuyết ngỏ ư đón mẹ con bà Hy về ở chung. Nhưng bà Hy e ngại sẽ không tránh khỏi sự va chạm giữa bà với con dâu riêng của chồng. Với tấm thân quả phụ ngoài ba mươi tuổi, Hà Thị Hy cặm cụi thờ chồng, nuôi con. Hằng ngày bà đem con theo ra đồng làm lụng, tối về, ṿng tay mẹ ấp cổ con trong xó nhà hiu quạnh. Hà Thị Hy ḷng đầy hy vọng một vài năm nữa, con trai ḿnh biết nhớ được mặt chữ th́ cho đi học. Nào ngờ, một buổi sáng, hàng râm bụt c̣n đẫm sương mai, bé Sắc chạy từ trong nhà ra ngơ, gọi thất thanh:
    -Anh...ơi...! M...ệe mch ...ết...mệ...em chết!...Anh... ơ...ii!

    Vợ chồng Nguyễn Sinh Thuyết hốt hoảng chạy tắt vườn băng qua bờ rào sang nhà người mẹ kế. Nhưng cô Đèn - Hà Thị Hy đă tắt nghỉ trên giường góa bụa. Hàng xóm cũng đă ùa tới. Tiếng khóc thương tiếc người thiếu phụ bạc mệnh dậy lên với những lời than thở : "Ôi! Một người con gái đă một thời sáng lên như ngọn đèn mà cũng ngắn ngủi như ngọn đèn!".

    Tin cô Đèn chết bay sang làng Sài. Những người cùng lứa với cô Đèn cảm thấy đột ngột. Đám trai làng trước đây đă “cầm duyên" cô nghe tin này càng sửng sốt. Họ rủ nhau sang ngay làng Sen tham gia việc chôn cất cô Đèn. Nghĩa tử là nghĩa tận, gia đ́nh anh Thuyết vui ḷng chấp thuận để trai làng Sài được đào huyệt và tự tay khiêng quan tài cô Đèn đến tận nơi yên nghỉ cuối cùng. Những bạn hát ở trong "phường hát ả đào" làng Sài cũng mang theo đàn, phách vừa đi vừa hát những bài tiễn biệt cô Đèn. Trai làng Sài c̣n nhờ ông Hồ Sĩ Tạo làm “Văn ai" khóc cô Đèn. Ông cử họ Hồ đă đứng trước mộ cô Đèn đọc bài “Văn ai". Mọi người xúc động theo giọng bi ai của ông cử họ Hồ thổn thức đọc điếu văn.

    Cha chết. Mẹ lại chết. Nguyễn Sinh Sắc mới hơn bốn tuổi đầu về ở với người anh cùng cha khác mẹ, ḷng trống trải, mắt ngơ ngác, xa lạ với tất cả. Những đêm đầu tiên ở trong nhà anh, Sắc cứ ngỡ là ở nơi băi hoang. Thỉnh thoảng Sắc khóc thét : "Mệ !... Mệ... ơi ii!" Người anh cứ phải nằm xuống ôm em giữ cho em ngủ. Nhưng, hễ rời ṿng tay anh ra, Sắc lại giật ḿnh khóc thét trong đêm khuya. Người chị dâu khó tính lại nạt nộ em, cằn nhằn chồng: "Nó không ngủ th́ cho nó đi ra cồn để ma nó bắt".

    Sợ chị dâu mắng, bé Sắc nhắm nghiền mắt nằm im thin thít. H́nh ảnh mẹ bay lượn trong quầng ảo giác xanh đỏ tím vàng. Và Sắc thấy một váng hào quang tỏa sáng. Mẹ của Sắc hóa thành bà tiên trong truyện cổ tích mà mẹ đă kể cho Sắc nghe. Sắc bỗng thấy lâng lâng như nhấc ḿnh bay lên theo mẹ. Rồi mẹ của Sắc lại như một con c̣ trắng chở Sắc bay qua đồng xanh, qua sông xanh, qua ngàn xanh, qua biển xanh...

    Thuyết tưởng em đă ngủ yên, anh rón rén dậy. Anh đến th́ thầm dặn vợ đừng mắng mỏ đứa em mồ côi bố mẹ đang tuổi trứng nước. Bé Sắc đă choàng dậy, giấc mơ tan biến, chỉ thấy một ḿnh trống trải. Sắc chạy ra sân, ra ngơ, ra đường cái theo ḍng nhớ trong mơ. Đến bờ ao sen, từng bầy đom đóm bay, Sắc bắt đầu rùng ḿnh sợ hăi, bấy giờ mới khóc to gọi : M...ệ... ơ i i! Mệ... ơi... về... với con... Mệ... ơi!

    Đêm tối như mực. Tiếng chó sủa rinh làng. Vợ chồng anh Thuyết, bà con trong họ, trong xóm đổ xô ra đường đuổi theo bé Sắc...

    Qua một trận ốm kéo dài, ai cũng tưởng bé Sắc không sống nổi. Nhờ được ông ngoại săn sóc thuốc thang, Sắc đă khỏe mạnh. Tiếc thay, ông ngoại của Sắc lại từ trần mà bà ngoại th́ đă mất từ lâu, Sắc lại trở về làng Sen sống với anh Thuyết.

    Làm theo lời cha dặn lúc hấp hối, Nguyễn Sinh Thuyết cho Sắc đi học chữ nho ngày một buổi; học về, đi chăn ḅ, cắt cỏ. Hôm đưa em đến thầy tú Vương xin học, anh Thuyết bưng cơi trầu, chai rượu đi trước, Sắc mặc áo năm thân nhuộm nâu non, quần dài quá gối đi theo anh. Chị Thuyết đứng trước cửa nhà bếp nói với ra sân :
    - Gớm! Nhà vua nỏ thừa bảng vàng để ghi danh ông nghè, ông cống cho cái ṇi "xướng ca vô loài" mà học với hành, tốn nghiên tốn bút.

    Anh Thuyết quay phắt lại. Anh vớ cái cọc chống rèm. Chị Thuyết ba chân bốn cẳng chạy lủi qua phía hè bếp. Anh Thuyết quát với mấy tiếng mắng vợ. Rồi anh quay lại dỗ ngọt em :
    - Chị mi độc mồm vậy thôi chứ nỏ để bụng chi mô.

    Sắc đưa ống tay áo lau nước mắt đi theo anh đến nhà thầy học.
    Ngay những buổi ban đầu, thầy tú Vương đă nhận ra Sắc là một học tṛ sáng dạ. Thầy đă thử cho Sắc về nhà học một tối phải thuộc ḷng và đến viết trầm (19) cho thầy xem năm mươi chữ ít nét, ba mươi chữ nhiều nét. Nguyễn Sinh Sắc đă đem lại sự ngạc nhiên cho thầy. Và thầy tú Vương cầm bàn tay học tṛ Nguyễn Sinh Sắc xem từng đường vân dạng. Thầy tấm tắc : "Đúng. Rất đúng. Con ṇi. Ṇi cầm ca. Ṇi nhả ngọc phun châu. Ṇi cô Đèn. Tài hoa lắm. Con gắng học. Con sẽ làm nên nếu con có chí học. Mỗi chữ là một con mắt. Người không có chữ trong đầu là người mù giữa thế gian".

    Lời thầy tú Vương như một ánh chớp mở vào thế giới tuổi thơ của Nguyễn Sinh Sắc. Rồi Sắc thấy lởn vởn trong ư nghĩ của ḿnh một câu hỏi : Chị Thuyết thường mắng ḿnh là "con nhà xướng ca vô loài". C̣n thầy tú Vương th́ khen ḿnh là : "Con ṇi. Ṇi cầm ca. Ṇi nhả ngọc phun châu. Ṇi cô Đèn..." Sắc tự tin : Điều thầy nói với học tṛ là lời mẹ nói với con. Và từ hôm Sắc được thầy khen, Quư và San kết thân với Sắc. Biết Sắc thiếu hơi ấm bố mẹ, San và Quư mỗi khi có quà bánh đều để phần đem đến lớp học cho Sắc. Có lần Sắc nói với bạn :
    - Các cậu cho ḿnh nhiều thứ, ḿnh nỏ có chi cả!
    Hiểu nỗi ḷng của bạn, San, Quư an ủi Sắc :
    - Đừng nghĩ ngợi có hay không có cái chi đối đăi nhau, nhà tụi ḿnh đầy đủ hơn nhà Sắc mà.

    Được thầy khích lệ, được bạn an ủi, Sắc càng chăm chỉ việc nhà để đỡ bị chị dâu mắng mỏ v́ quá ham học. Một lần Sắc ngồi đun cám lợn, chị dâu đang thái chuối ngoài sân. Sắc dùng que củi than tập viết lên nền nhà. V́ quá say sưa viết, Sắc quên khuấy, nồi cám bị khê nặc. Chị Thuyết từ ngoài sân chạy vào hắt cả rổ rau chuối vào người Sắc, mắng té tát : "Đồ mặt nạc đóm đày. Cháy nồi của tau rồi. Học với hành, chữ với nghĩa chi cái thứ cái thứ mi...!". Sắc biết ḿnh có lỗi nên bặm môi chịu chửi, không khóc, không tỏ vẻ khó chịu với chị. Vả lại Sắc đă nhận ra tính khí người chị dâu nóng, phàm miệng, nhưng miếng ăn th́ nhường nhịn cho chồng, cho em. Hằng ngày chị Thuyết phải xới cơm chia : Anh Thuyết, cột trụ gia đ́nh, được ăn mỗi bữa ba bát cơm độn, xới đầy. Sắc được hai bát vừa, chị Thuyết chỉ có một bát đầy và vét cháy. Nhiều hôm anh Thuyết bưng bát cơm thứ ba vừa đi quanh sân vừa ăn, rồi lẻn ra sau nhà ngắt lá chuối gói nửa bát cơm c̣n lại giấu vào cái nón mê của Sắc thường đội đi chăn trâu. Biết gói cơm này là của anh đă giấu chị nhường cho ḿnh, Sắc mang theo ra băi chăn trâu mới ăn.


    3.2

    Một buổi chiều sau tết Nguyên đán. Mưa xuân lâm thâm. Gió se se lạnh. Nguyễn Sinh Sắc đội nón mê, khoác tơi lá nằm tùm hum trên lưng trâu ở cánh đồng Dăm Quan. Con trâu mải miết gặm cỏ. Sắc mê say học bài. Sợ bụi mưa thấm vào trang sách, Sắc nghiêng nghiêng mái nón che phía gió thổi.

    Con trâu đang gặm cỏ bỗng nghênh đầu lên nh́n về phía có người lạ đi tới. Nhưng Sắc mải dán mắt vào trang sách không biết có người đang đứng bên con trâu để ư việc học bài của ḿnh.

    - Cháu chăm chỉ quá? Hiếu học là một đức tính đáng quư.
    Sắc giật ḿnh hơi bối rối ngước nh́n : Một ông trông hiền từ, dáng vẻ một thầy đồ, tay che ô, đầu đội khăn nhiễu khoác áo dài kép, chân đi guốc to bàn cuốn mỏ, quai mây h́nh đuôi én. Sắc nhảy từ lưng trâu xuống đất, đứng lễ phép bên ông.

    - Cháu là con nhà ai?
    - Thưa ông cháu là con ông Nhậm ạ.
    - À ra... cháu là con trai ông Nhậm, con cô Đèn! Thảo nào. Cháu sớm có chí học. Cháu giữ bền được cái chí học th́ ắt sẽ làm nên đó.

    Ông nh́n tập vở trong tay Sắc, hỏi :
    - Cháu đă học đến sách ǵ?
    - Thưa ông, cháu đang học sách "Sơ học vấn tân" ạ.
    - Nghĩa của nó là ǵ?
    - Dạ... là bắt đầu học hỏi ạ.
    - Nghĩa rộng là ǵ?
    - Thưa ông, cháu nhớ lời thầy Vương giảng là : Hỏi về đường hướng của sự học ạ.
    - Sách này do người Nam ta soạn hay người Tàu soạn, hở cháu?
    - Thưa ông, thầy Vương dạy rằng sách "Sơ học vấn tân" là do người nước ta soạn cho con cháu đời sau học ạ.
    - Cháu đọc trầm cho ông nghe vài câu, được không?
    - Cháu xin đọc : Kỳ tại quốc bản, cổ hiệu Việt Thường, Đường cải An Nam, Hán xưng Nam Việt, Thần Nông tứ thế, thứ tử phân phong, Việt Kinh Dương vương, hiệu Hồng Bàng thị...
    - Tốt. Tốt lắm... Cháu thử giải nôm cho ông nghe coi.
    - Nước ta xưa gọi là Việt Thường. Nhà Đường chúng đổi là An Nam, sang nhà Hán chúng lại gọi là Nam Việt. Cháu bốn đời vua Thần Nông vốn là con thứ được phong làm vua xứ ta là Kinh Dương, hiệu Hồng Bàng.

    Ông liền hỏi tên, hỏi tuổi của Sắc. Ông nói với Sắc giọng cảm động :

    - Ông ước ao có một người con trai mà không được. Ngày mai cháu đến nhà thầy tú Vương học, cháu thưa lại với thầy là ông đồ Hoàng Xuân Đường đă gặp cháu và ông chuyển lời thăm sức khỏe đến thầy. Có thể một ngày không xa, ông sẽ đến vịnh thơ uống rượu với thầy.

    Đầu mùa hè năm đó, ông tú họ Hoàng từ làng Chùa sang làng Sen chơi nhà thầy tú Vương. Lâu ngày gặp nhau, hai ông đồ say chuyện, say thơ, say hương rượu từ lúc hoa râm bụt nở bừng cho đến lúc chúng cúi gục cần câu xuống bờ giậu. Gió Nam hiu hiu thổi qua bờ tre, lướt vào cửa sổ nhẹ nhàng. Hai ông đồ đă thiêm thiếp giấc nồng. Học tṛ của thầy tú Vương đến, thấy thầy có khách đă lảng ra vườn bắt ve sầu, t́m tổ chim, săn chuồn chuồn ông voi...

    Phan Văn San, Vương Thúc Quư và Nguyễn Sinh Sắc th́ lúi húi dán diều giấy ở đầu nhà. Thỉnh thoảng Sắc chạy vào kéo quạt (20) cho hai thầy đồ ngon giấc. Do có tiếng động mạnh từ ngoài cối xay lúa, hai thầy giật ḿnh tỉnh giấc thấy tṛ Sắc một tay cầm sách học ôn bài, một tay kéo quạt.

    Niềm xúc động dấy lên ánh mắt của hai thầy nh́n Nguyễn Sinh Sắc. Thầy tú Vương nói : "Hiếu tại tâm. Nhân bất hiếu bất thành nhân" (Hiếu ở ḷng. Người không có hiếu chẳng là người).

    Thầy tú Vương giọng sảng khoái nói với Sắc :
    - Thầy cho phép con đưa thầy tú Hoàng Xuân Đường về gặp anh chị của con. Nếu anh chị của con vui ḷng cho con được về nhập thân vào nhà thầy tú Hoàng Xuân Đường là phúc phần cho con lắm.

    Ông đồ Hoàng Xuân Đường đến gặp vợ chồng anh Thuyết Vừa nghe chưa trọn câu chuyện của ông đồ, chị Thuyết đă mau miệng :

    - Bẩm thầy, vợ chồng con mô dám phụ cái bụng tốt của thầy. Thầy đón bé Sắc về dưới đó ngay giờ cũng được ạ.

    Anh Thuyết lườm vợ :
    - Mẹ hắn vội chi rứa? Để em nó ở lại vài hôm, c̣n coi ngày, coi giờ nữa chứ!
    - Dề, - chị Thuyết trề môi, - làm nhà, tậu ruộng đâu mà phải chọn ngày lành tháng tốt!

    Anh Thuyết nuốt giận lẫn nước mắt đắng cổ họng. Anh đưa cho em bọc áo quần, sách vở mà không dám nh́n thẳng vào mắt em, sợ bật lên tiếng khóc.

    Nắng chiều xiên khoai. ông đồ nghiêng mái ô về phía mặt trời. Bóng chiếc ô che trùm hai mái đầu cao, thấp.

    Ra khỏi làng Sen, Sắc ngoái lại nh́n mái nhà ḿnh thấp thoáng sau bóng tre, cố gh́m nước mắt. Sắc ôm choàng ngang người ông đồ, giọng hơi lạc, run run :

    - Ông ơi ! ông đón cháu về nuôi cho cháu ăn học à? Thật vậy ông?
    - Nói dối trẻ con là một trọng tội. Ông sẽ dạy cháu học. Cháu muốn học bao lâu ta cũng không ngăn cản.

    Bé Sắc quỳ hẳn xuống đất, chắp tay như sắp vái lạy :
    - Ôi sung sướng! Sung sướng! Con không c̣n cha mệ! Ông ơi! Cho con được gọi ông là cha của con. Có thể trời phật đă phù hộ cho con chăng?
    - Con đứng lên đi. - ông d́u Sắc dậy. - Ta đă nhận con vào ḷng ta ngay từ hôm gặp con nằm trên lưng trâu mà học chữ thánh hiền. Ta không có con trai. Đă từ lâu ta hằng mong có người nối chí. Nay ta chọn con. Ta hỏi thêm con điều này nữa : Con ước ao được học nhiều chữ để làm ǵ?
    - Thưa cha, người dốt nát th́ khổ cực. Con muốn có nhiều chữ để đỡ bị kẻ khác đè đầu và biết thuốc mà chữa bệnh; con có chữ con sẽ dạy chữ, dạy thuốc cho người chưa biết ạ.
    - Được. Con đă biết chọn việc học để làm người. Hợp với ư của cha. Cha yên tâm về con.

    Năm cậu bé Nguyễn Sinh Sắc về làm con trong gia đ́nh ông bà đồ, cô Hoàng Thị Loan mới lên năm tuổi. Tám năm sau, bà cố sinh thêm con gái, đặt tên là An. Cô Loan lên tuổi mười ba th́ bước vào đời làm vợ Nguyễn Sinh Sắc, một anh nho mười tám tuổi. Đến năm mười sáu tuổi, cô Loan sinh con gái đầu ḷng : Nguyễn Thị Thanh, tự là Bạch Liên. Bốn năm sau, Loan lại đẻ con trai Nguyễn Sinh Khiêm, tự Tất Đạt. Nguyễn Sinh Côn ra đời tiếp sau đó vài vài năm...

    Bé Thanh, Khiêm, Côn khi đă biết được phần nào về ḍng dơi nhà ḿnh, thường hỏi mẹ :
    - Hồi c̣n bé, cha của chúng con sao mà khổ cực nhiều vậy mệ?

    Chị nho Sắc xoa đầu các con, giọng thủ thỉ :
    - Các con lớn lên đă...

    Bé Thanh lại hỏi mẹ :
    - Mệ ơi! Ba chị em con, đứa mô giống bà nội nhiều hở mệ?
    - Mệ không được biết mặt bà nội. Các con đến hỏi bà ngoại. Bà ngoại của các con đă có lần được xem bà nội múa đèn, gảy đàn, hát nhà tṛ.

    Lúc ba chị em bé Thanh hỏi ríu ra ríu rít bên bà ngoại th́ bà chỉ lên phía bộ tranh tố nữ : "Bà nội của tụi bây y hệt cái cô trong tranh kia. Chị em mi đứa mô cũng giống bà nội cả. Riêng thằng Côn là giống bà nội nhiều nhất..."


    ---------------
    Chú thích:

    (18) Đơn vị tiền thời nhà Nguyễn
    (19) Thuộc ḷng không nh́n sách
    (20) Một loại quạt to gần bằng cái chiếu, h́nh chữ nhật, được treo ở trên xà nhà, một người cầm cái dây kéo như đưa vơng, gió mát đều khắp nhà.

    Llévame lejos que cuando estoy contigo parece cerca.


    ...
    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

  5. #5
    FA - Everything will be okay!
    Category Moderator

    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    61.346
    Next Level: 0

    Phần 4



    4.1

    Từ ngày ông đồ Hoàng Xuân Đường tạ thế, nhà bà đồ trở nên eo hẹp tiền tiêu. Cả nhà bảy miệng ăn chỉ trông vào hoa lợi của hơn hai mẫu ruộng mà đă cho cấy rẽ mất một nửa, số c̣n lại chị nho Sắc và cô An gánh vác. Ngoài ra, hai chị em cô Loan phải kéo sợi dệt vải luôn tay mới có tiền bút nghiên cho anh Sắc học ôn thi. Anh nho Sắc lại nhiều bạn lui tới đàm đạo việc học, việc đời. Có bạn ở tận xa, cách xă, cách huyện, thường đến ở chơi trong nhà cả tuần trăng. Bà đồ thấy ấm dạ v́ chồng đă khuất mà nhà không vắng khách văn, có con rể được nhiều người trọng nể. Nhiều hôm khách của anh nho Sắc đến chơi đông, ở lại ăn cơm, mẹ con bà đồ thường phải nấu thêm hai, ba lần mới đủ. Thỉnh thoảng gặp hôm chưa giă kịp gạo, khách ở lại ăn cơm đông, ba mẹ con bà đồ phải nhịn cơm cho khách. Riêng ba chị em bé Thanh, Khiêm, Côn th́ được ăn cơm vét nồi, cơm cháy. Bé Khiêm và bé Côn vô ư động bát đũa lớn tiếng, bà đồ khẽ dặn cháu :

    - Tụi bây khẽ tay chứ! Có khách đang ăn cơm trên nhà, các cháu phải có ư có tứ.

    - Bé Côông là hay khua bát đũa nhất. - Cô An trách yêu bé Côn.

    Côn phụng phịu hỏi bà :

    - Khách ở măi trên nớ (kia), chúng cháu ở tận dưới nhà ni, răng lại không được nói to, không được chạm bát đũa, hở bà?

    - Khách đang tṛ chuyện, khách đang ăn cơm mà các cháu làm ồn, đụng chạm soàng soạng dưới nhà th́ khách họ cười người nhà ḿnh vô ư, hoặc là có ư đuổi khách về. Cháu bà rơ chưa?

    Côn gật gật đầu, hỏi thêm bà :

    - Chị Thanh cạo cháy trong nồi mạnh tay cũng bị d́ An mắng, v́ răng rứa bà?

    - Ồ! Cháu của bà c̣n chưa biết cả cái việc ấy nữa. Cháu ơi !... Khách đang ăn cơm mà các cháu cạo cháy sào sạo toáng lên th́ có khác chi ngăn khách đừng ăn nữa, hết cơm rồi. Cháu rơ chưa?

    Côn cười x̣a, rúc đầu vào nách bà, nũng nịu. Vừa qua giỗ đầu ông Hoàng Xuân Đường, anh nho Sắc đi thi Hương khoa Giáp Ngọ (1894) trường Nghệ (Vinh). Bà đồ làm mâm cơm cúng gia tiên, cầu danh cho con rể. Anh cử Vương Thúc Quư, anh nho Phan Văn San th́ đem lễ rượu, hương, trầu đi cúng đền Thánh Cả, chùa Đạt để thần phật phù hộ cho anh nho Sắc thi đỗ. Bà con Nguyễn Sinh cũng như họ Hoàng đều mong ngóng, đợi chờ anh nho Sắc ở khoa thi này. Dân làng Sen, làng Chùa ai cũng biết anh nho Sắc là người học giỏi vào hàng thứ nhất trong vùng, chỉ e "học tài thi phận". Hằng ngày nhà bà đồ từ sáng đến tối liên tiếp người đến thăm tin vui ở dưới trường thi về. Bé Côn thấy nhà vui như hội, túm áo anh Khiêm kéo ra sân nhảy ḷ c̣, đánh khăng, bắt anh cơng từ sân ra ngơ, từ ngơ vào sân. Ông Xẩm trải manh chiếu bên ngơ nhà bà đồ, lên dây đàn... Anh em bé Côn và cả đám trẻ trong làng đă ùa đến, đứa ngồi, đứa đứng xúm quanh ông Xẩm. Hôm nay ông ca tích truyện Tống Trân - Cúc Hoa. Cả đám trẻ ngồi lịm. Có đứa mũi tḥ ḷ, nước dăi chảy ướt ngực quên cả lau chùi. Các bà già, các chị ở trong ở trong nhà đi ngang qua đều ghé lại nghe... Lúc ông Xẩm ca đến đoạn Cúc Hoa bán yếm lấy tiền cho chồng đi thi, nhiều bà khóc. Bé Côn, bé Khiêm th́ mắt chớp lia lịa, nh́n đắm đuối cái miệng ông Xẩm dẻo quẹo.

    Bà đồ từ trong nhà bưng ra một rá khoai lang, một bát gạo, ghé sát ông Xẩm :

    - Nghe ông ca cái tích Cúc Hoa nuôi chồng ăn học, bán yếm lấy tiền lộ phí cho chồng đi thi.... tiết nghĩa lắm lắm. Tôi nỏ có chi nhiều, chỉ có mớ khoai, lẻ gạo biếu ông...

    Ông Xẩm đón lấy món quà ở tay bà đồ, cảm động nói :

    - Xin đội ơn cụ. Được ăn lộc của gia đ́nh cụ th́ kẻ hèn mọn ni cũng mở mặt mở mày thêm.

    - Tí khoai tí gạo có đáng chi mô mà ông nghĩ ơn huệ, ông!

    - Ôi! Thưa cụ, của tuy ít mà ḷng nhiều. Một củ khoai của cụ bớt miệng để cho kẻ nghèo khó c̣n hơn những nhà giàu bá hộ sẻ cả gánh, cả đống của, cụ ạ.

    Một người hàng xóm hỏi ông Xẩm :

    - Ông hát tích Cúc Hoa nuôi chồng ăn học, bán yếm cho chồng đi thi đỗ tới trạng nguyên. C̣n chị Loan làng Chùa ta quạnh năm canh cửi giúp chồng đèn sách, dệt vải may áo cho chồng đi thi th́ liệu anh nho Sắc khoa ni có đỗ đạt chi không, hở ông Xẩm?

    - Con người ta... - ông Xẩm đáp - Tui không giỏi môn tướng số, nhưng tui có linh tính. Trời phú cho kẻ mù mắt một thứ ánh sáng khác để biết việc đời. Từ hôm cậu nho Sắc đi thi, tui nằm ngủ đều mơ thấy mặt trời chiếu vô cái túp lều tranh của tui. Tui là kẻ cùng đinh đến ngụ ở cái làng Chùa ni th́ nỏ có đáng chi để mà báo mộng về sự đỗ đạt, thăng quan, tiến chức? Tui nghĩ : Cái báo mộng mặt trời chiếu vô lều tranh ấy là làng Chùa ta sắp có hiền nhân quân tử đến. Người đó hẳn là cậu nho Sắc thi Hương đỗ. Cho nên mấy bữa ni tui chỉ đàn ca những tích truyện về sự học hành thi cử, về người có công cứu nước, cứu đời...

    Việc anh nho Sắc đi thi Hương c̣n được bàn tán ngoài ruộng vụ mười. Chị nho Sắc, cô An gánh mạ, gặp ai trên đồng họ cũng hỏi việc thi cử của anh nho Sắc đă có tin ǵ vui dưới trường thi đưa về chưa. Có chị em trách chị nho :

    - Gớm! Cả năm nay nặng lo đèn sách cho chồng đến nỗi bỏ chị em phường vải chúng ḿnh. Các anh nho San, anh cử Quư vẫn đưa cánh con trai làng Sen, Đan Nhiễm xuống hát với phường vải nhà ḿnh luôn đấy. Cả cái An cũng theo chị bỏ phường, bỏ hát hẳn?

    Chị nho Sắc phân trần :

    - Ḿnh có bận bịu với đèn sách năm anh ấy đi thi. Nhưng chị em ḿnh nỏ đi hát với phường là v́ c̣n có tang cha.

    - Tụi ḿnh biết cái lẽ ấy lắm. Nhưng vắng tiếng hát của Loan, của An, tụi này nhớ mà trách đó thôi...

    - Loan này, - một cô bạn hỏi chị nho Sắc - tau nghe nói mi đă bán đôi khuyên vàng để lo việc thi cử cho anh ấy?

    - Có vậy. V́... nhờ trời mà anh ấy đậu Hương thí th́ c̣n vô kinh để dự Hội thí nữa kia.

    - Gái có công th́ chồng chẳng phụ, Loan ạ.

    Từ cánh đồng sâu cách nơi chị em nho Sắc cấy hai thửa ruộng, một giọng hát trong trẻo cất lên :

    Chim khôn ăn trái nhăn lồng,
    Gái ngoan nuôi chồng nấu sử sôi kinh.
    Thi Hương, thi Hội, thi Đ́nh (21)
    Tên chồng trên bảng xướng danh rơ ràng.
    Ngày về áo măo vua ban,
    Vơng anh đi trước, vơng nàng theo sau.


    Cô An nghe trọn tiếng hát của người bạn gái, cười mỉm, nói với chị ḿnh :

    - Mấy đứa ấy, chúng nó ước mơ cuộc sống của anh chị lắm nên mới hát vậy đó.

    Chị nho Sắc cầm nắm mạ trong tay, đứng thẳng người nói với sang các cô vừa hát "ghẹo" ḿnh:

    - Nạ ḍng ni quen đi chân đất, đội nón lá, nỏ dám nằm vơng che lọng mô nhớ!

    Mọi người đang vui câu chuyện trên ruộng lúa xế chiều th́, từ phía trong làng thấp thoáng từng tốp người lớn, trẻ con kéo ra phía đường quan. Chị em thợ cấy đều ngừng tay để mắt cả về phía đó. Chị nho Sắc như có linh tính báo... ḷng thấp thỏm, trống ngực nháo động.

    Một bóng người chạy tắt cánh đồng về phía ruộng bà đồ. Hai chị em nho Sắc càng hồi hộp... C̣n cách mấy đám ruộng, người con ông chú của chị nho đă gọi to :

    - Về Chị nho ơi!... Chị An ơi! Anh nho đỗ cử nhân rồi! Về thôi. Cả làng đang ra đường đón quan tân khoa kia ḱa.

    Hai chị em nho Sắc nh́n nhau. Hai giọt lệ đọng bên khóe mắt chị nho Sắc như giọt sương trên lá răm non. Mấy cô bạn giọng vui mừng giục thoắng :

    - Về thôi Loan ơi! Từ rày tụi này nỏ gọi tên, gọi chị nho nữa mô mà gọi là bà cử đó.

    - Tụi bay đừng gọi chi khác, cứ tên Loan, tên Sắc mà gọi.

    Người em con chú đứng trên bờ, vẻ sốt ruột :

    - Hai chị nghỉ tay thôi. Bữa khác rồi cấy nốt. Về nhà c̣n lo việc trầu nước mời khách họ đến mừng chứ.

    Chị nho Sắc đă qua phút giây xúc động, giọng từ tốn :

    - An về trước đi em. Chị ở lại cấy cho hết số mạ ni kẻo hỏng mất. Ông nghè ông cống cũng sống về ăn, em ạ.

    Đồng quê chiều tím. Chị nho Sắc quảy trên vai đôi gióng nhẹ tênh, lần từng bước theo bờ ruộng chênh vênh. Gió chiều vuốt nhẹ tấm áo nâu non, nếp váy thâm bạc màu lượn theo dáng người thắt đáy lưng ong của chị. Chị ngoái nh́n thửa ruộng đă cấy kín, niềm hy vọng một vụ lúa tốt đang nảy mầm trong ḷng chị. Chị ghé xuống bến Đầm Sen rửa chân tay. Tiếng chim chiều "quốc... quốc..." trong lũy tre rậm rạp như tiếng gọi từ ḷng chị vang lên. Chị vừa bước về đầu ngơ đă có tiếng reo : "Ồ! Chị cử Sắc đă về kia!". Vừa lúc đó vợ chồng anh Nguyễn Sinh Thuyết chạy ra, đon đả :

    - Chào thím cử... Răng thím về muộn rứa?

    Chị nho Sắc chào và đáp chuyện với anh chồng, chị dâu bằng nụ cười tươi. Và, chị cảm thấy ngường ngượng về cách gọi mới : "thím cử”, "chị cử”. Bé Côn cầm tay bác Thuyết gái đi ra đón mẹ cũng ríu ra ríu rít hỏi :

    - Mệ ơi. Cha thi đỗ cử nhân th́ được cấy (cái) chi mà ai cũng vui, cũng đến mừng nhà ta, hở mệ?

    - Ấy chớ! Con không được hỏi rứa. Cha mắng chết.

    - Cháu Côông của chú thím nó sớm khôn lắm. Trời để sống nó c̣n học sỏi (giỏi) hơn cả cha chứ nỏ bỡn mô, thím ạ.

    Chị nho Sắc mời anh chồng lên nhà khách và đón chị dâu vàn nhà dưới, trong đó bà đồ đang tṛ chuyện với các bà khách đến chúc mừng con rể bà đạt vinh hiển.

    Từ thềm nhà trên cho ra tới cuối sân, khách ngồi kín cả hai ghế tràng kỷ, các chơng tre, và nhiều người ngồi xổm, ngồi bệt xuống các khúc gỗ... Trước mặt mọi người là dăy bát nước chè xanh đặc quánh. Những miếng trầu têm cánh phượng, cau đậu được đặt ngay ngắn. Anh Nguyễn Sinh Sắc được mọi người gọi là quan cứ th́ ngồi ghế tựa đầu bàn. Hương lư, hào mục ngồi trên hai dăy tràng kỷ...

    Anh Sắc giọng từ tốn:

    - Thưa các thầy trong hội đồng hương lư! Thưa các bác, các chú, các o, các d́ và bà con nội ngoại, xóm làng! Điều trước nhất tôi xin mọi người đừng gọi tôi là quan cử. Sự đỗ đạt của tôi không hẳn là cái thang lên quan. Tôi sinh từ làng Sen. Tôi lớn lên trên đất làng Chùa. Tôi là dân và bao giờ cũng vẫn là người dân của làng ta, của xứ sở ta.

    Ông chánh hương hội xoa xoa hai bàn tay, nói :

    - Thưa.. Thưa... Thưa..

    Bé Côn ngồi trên đùi bác Nguyễn Sinh Thuyết nghiêng cổ nh́n ông chánh hương hội có bộ râu chuột ba cḥm cứ thưa măi mà chưa nói thành câu liền ph́ cười làm mọi người cười theo. Anh nho Sắc lừ mắt về phía Côn. Côn tựa đầu vào ngực bác Thuyết, giấu mặt. ông chánh hương hội nói ề à :

    - Quan... Quan cử đă... đă nói thực tâm như vậy là... là cái gốc của người có đạo nghĩa, ở chỗ "Dân vi quư", ở chỗ "Dân vạn đại, quan nhất thời". Vậy th́, xin được gọi là "ông cử” ạ.

    Mọi người vừa uống nước, ăn trầu, vừa nói râm ran, tỏ vẻ đồng t́nh gọi là "ông cử Sắc". Viên lư trưởng trịnh trọng thay mặt hội đồng hào lư :

    - Thưa ông cử tân khoa. Theo tục lệ làng ta, hội đồng hào lư đă họp và quyết định cấp ba sào ruộng "học điền" do ông đă đưa vinh hiển về cho dân, cho xă này...

    Anh cử Sắc đă từ chối việc cấp ruộng "học điền". Viên lư trưởng phải giở cuốn hương ước (lệ luật trong làng) và nhắc lại lai lịch :

    - Đất Chung Cự quê ta là đất hiếu học lâu đời, người đỗ đạt cũng khá nhiều. Theo sách "Đăng khoa lục" th́ từ đời vua Lê Dương Ḥa (1635) xă Chung Cự ni đă có người thi đỗ. Tính cả người đi thi Hương, thi Hội cả thảy là 96 khoa, toàn xă ta đă có 193 người đậu gồm có hiếu sinh, giám sinh, cử nhân, tú tài. Làng Chùa này có 29 người, làng Sen đậu 53 người, làng Ngọc Đ́nh tới những 72 người, làng Vân Hội được 25 người, làng Cường Kỵ có 10 người, làng Tỉnh Lư 3 người, làng Khoa Cử chỉ có một người đậu. - Viên lư trưởng nhấn giọng : - Đó, tục lệ cấp ruộng "học điền" của quê ta có từ cái thuở xa xưa ấy.

    Anh cử Sắc đă không thể từ chối, nói :

    - Thôi th́ đất lề quê thói, thầy lư đă nói vậy, tôi xin nhận một sào rưỡi thôi ạ. Sào rưỡi ni tôi xin dân làng và hội đồng hào lư được phép bán lấy tiền để sửa lại ngôi nhà thờ họ bị hư hỏng đă lâu ngày.

    Cả mặt sân thấu ngoài ngơ dậy lên những tiếng tấm tắc : "Hiếm có người tốt như anh cử Sắc. Trong khi có bao nhiêu kẻ ḷng tham không đáy đục khoét của dân, dùng chức vụ đè đầu dân, cưỡi lên cổ dân th́ trái lại, anh cử Sắc từ chối "lộc" của làng thưởng cho ḿnh, không chịu nhận cái danh vị mà ḿnh có được". Bé Côn thủ thỉ hỏi bác Thuyết :

    - Bác ơi, học điền là cấy chi, hả bác?

    - Là ruộng công dành để cấp cho người trong làng học đỗ đạt cao, cháu ạ.

    - C̣n... lộc là chi rứa, hả bác?

    - Lộc là món quà quư, là món tiền, là đồ vật để thưởng cho một người nào. Như cha cháu được dân làng thưởng lộc bằng một số ruộng tốt.

    - Răng cha cháu lại nỏ nhận lộc, hả bác?

    - Cha cháu là người không có đầu óc hám lợi, hám danh, cho nên cha cháu không muốn nhận ruộng công của dân làng làm của riêng cho nhà ḿnh. Cháu rơ chưa?

    Bé Côn ôm chặt lấy người bác ruột gật đầu, mắt chăm chú nh́n cha đang tṛ chuyện với các ông hương lư...


    4.2

    Khoa thi Hội Ất Mùi (1895), anh Nguyễn Sinh Sắc không đỗ. Từ kinh đô Huế về, ḷng anh nặng trĩu bao nhiêu điều nghĩ ngợi trở trăn.

    Cha vắng nhà lâu ngày đă về, ba chị em Thanh, Khiêm, Côn chạy ùa ra ôm lấy cha giữa sân. Bé Côn c̣n ṿi cha cơng. Bà đồ đứng ở thềm nhà với con gái, mắng yêu Côn :

    - Bé Côông hư nhá! Cha đi đường xa vừa về c̣n mệt mà đă ṿi vĩnh.

    Côn hai tay ôm lấy cổ cha, giọng nũng nịu :

    - Cháu đang đói bụng, chộ (thấy) cha về mừng đă hết biết đói th́... th́ cha cháu chộ cháu cũng đă hết cả mệt rồi chứ, bà à...

    Mọi người không nén nổi tức cười và bà đồ vừa cười vừa phân bua :

    - Con trai anh nó lư sự như rứa đó.

    Anh cử Sắc bế vác bé Côn, vừa đi vào nhà vừa hỏi :

    - Ở nhà ba chị em có ngoan với bà, với mẹ, với d́ An không?

    Bé Thanh thưa :

    - Thằng Khơm (Khiêm) ngoan, con ngoan. C̣n thằng Côông th́ nghịch trổ trời, cha ạ.
    Bé Côn lắc lắc đầu :

    - Nỏ phải... Chị Thanh nói nỏ phải... nỏ phải.

    - Em Côn của con nghịch những ǵ? - Anh Sắc hỏi gạn con gái.

    - Nó trèo cau lấy bẹ để làm thuyền này. Trèo cây thị hái quả ương này. Leo cả lên hồi nhà t́m chim sẻ đă sẩy chân giẫm lên bệ bát cổ của bà, làm vỡ một lúc chục cấy đĩa bạt trúc hóa rồng, cha ạ.

    Côn thanh minh :
    - Bà đă gắn được bảy cái, chỉ có ba cái là vỡ nhiều mảnh thôi, cha ạ.

    Anh Sắc giọng ôn tồn :

    - Như rứa là Côn đă không ngoan bằng chị Thanh, anh Khiêm. Lần ni th́ cha cho qua, lần sau con c̣n không nghe lời bà, lời mẹ, lời d́ An th́ cha cho ăn đ̣n. Côn.đă nhớ chưa nào?
    - Thưa cha, con nhớ rồi ạ.
    - Hôm nọ mẹ con đă dặn con về cái hại của việc leo trèo nghịch ngợm, c̣n nhớ không?
    - C̣n nhớ cha ạ.
    - Nhớ. Con nhắc lại lời mẹ dặn con, cha nghe coi!
    - Mệ nhủ : "Nhà có phúc sinh con giỏi lội, nhà có tội sinh con hay trèo" ạ.

    Cả nhà cười vui vẻ. Chị cử Sắc từ năy quẩn dọn luôn tay, thấy chồng "truy lỗi" bé Côn, chị định đỡ lời cho con ngay, nhưng sợ con lại dựa vào t́nh thương dễ dăi của mẹ sẽ sinh nhờn sự nghiêm khắc của cha. Chị đặt ấm tích chè xanh trước mặt chồng, nói đỡ cho con :

    - Bé Côông được cái khi có lỗi biết nhận lỗi ngay với bà, với mẹ. Thầy cử Quư cũng khen bé Côông sáng dạ nhất đám học vỡ ḷng. Mà cũng là đứa nô đùa nhất đám. Được cái là... hễ khi thầy răn một tiếng là biết phép, sửa lỗi ngay. Và dạo rủ bé Côông c̣n biết đặt những câu vè, bắt chước bà nói có ca, có vần, đáng khen lắm.

    Anh cử Sắc hai bàn tay như hai cánh chim ấp vào đôi má bầu bầu của bé Côn :

    - Con có ba việc lỗi là leo trèo làm vỡ đĩa của bà, nghịch phá tổ chim, đùa trong lớp học. Việc phạm lỗi, dù phạm lỗi lớn hay lỗi nhỏ, con cũng đă sửa ngay. Tuy con đă sửa lỗi rồi, cha vẫn dặn lại con là đừng có phạm một lần nào nữa về cái lỗi phá tổ chim. Con người ta có ngôi nhà, con chim có cái tổ. Giả thử cái nhà chúng ta đang ở yên thế này lại bị kẻ khác đến phá th́ bà này, cha mẹ này, d́ An này, các con này... ở vào đâu?

    Bé Côn mặt buồn rười rượi, hối hận về việc làm sai trong những ngày cha đi thi Hội. Anh cử Sắc lấy trong khăn gói ra các món quà mua về. Anh bưng hai tay cái đĩa bạt xếp những lạng cao ban long, cao lộc đưa tới phía giường biếu mẹ. Anh tặng em gái vợ, cô An, một bộ dây xà tích bạc. Món quà cho vợ là cái nón Huế, một cặp con thoi bằng sừng. Anh c̣n đưa cho vợ một số quà để biếu bà con bên nội, bên ngoại và hàng xóm. Trao quà cho người lớn xong, anh cử Sắc mới phát quà cho các con, mỗi đứa một cái ṿng bạc có vuốt hổ. Riêng Côn, anh thưởng cho một bộ đèn kéo quân bằng giấy bóng màu. Anh nghiêm khắc với những khuyết điểm nhưng khích lệ tính ham học của Côn :

    - Con tuy có nhiều thiếu sót, chưa ngoan bằng chị Thanh, anh Khiêm, nhưng con học chăm, được thầy khen, con lại nhỏ nhất nhà nên cha thưởng cho cái đèn kéo quân này.

    Bé Côn nở nụ cười tươi, hai mắt ngời sáng, sung sướng đón nhận quà trên tay cha rồi chạy sang với bà ngoại.

    Nghe tin anh cử Sắc vào kinh đô thi Hội đă "về không", bạn bè danh nho, khoa cử ở khắp hàng huyện lần lượt đến với anh. Tuy mới lên năm tuổi, bé Côn rất ham nghe cha b́nh văn, bàn thời cuộc với bạn. Côn không đi theo theo anh Khiêm cùng các bạn nhỏ trong làng Chùa ra núi Chung săn chim cun cút, chim cuốc và chia phe đánh trận giả, hoặc chồng kiệu rước thần, rước "trạng nguyên vinh quy bái tổ"... Côn bịn rịn bên cha suốt ngày. Có lúc khách của cha đến đông, chật chỗ ngồi, Côn vào buồng ngồi bên khung cửi với mẹ, nhưng tai vẫn lắng nghe chuyện văn chương, thi cử ở nhà ngoài.

    Anh cử Sắc đă tường thuật với bạn về chương tŕnh, nội dung đề thi Hội. Nhà vua ra chiếu: Hội thí chia ba kỳ: Kỳ thứ nhất thi môn kinh nghĩa; kỳ thứ hai thi môn thơ, phú, chiếu, biểu; kỳ thứ ba thi môn văn sách. (22)

    Nguyễn Sinh Sắc bị đánh hỏng là do bài văn sách của anh đă lồng ư phê phán việc để mất nước ta cho Tây. Anh c̣n nhận xét về thái độ của các quan trong triều đ́nh Huế đă cam bề thần phục người Tây và đang đua nhau học tiếng Tây cốt để được Tây trọng dụng. Trong những ngày ở kinh đô, Nguyễn Sinh Sắc được một lần nh́n thấy vua Thành Thái ngự thuyền rồng chơi sông Hương. Vua đội khăn vàng, mặc áo gấm, ngực đeo kim khánh nổi bốn chữ "Đại Nam Thành Thái". Nhưng vẻ mặt vua ủ dột, mắt nh́n xa buồn thăm thẳm.

    Bé Côn ngồi cạnh mẹ, nghe cha tả về thần sắc của vua khác cái h́nh ảnh ông vua do bà ngoại kể, hỏi :

    - Con nghe bà kể chuyện cổ tích th́ ông vua đi đâu có hào quang tỏa sáng, có mây gấm trên trời che cho vua, ai nh́n mặt vua liền bị mù mắt. Sao cha lại nhủ là vua Thành Thái mặt ủ dột, mắt buồn, hả mệ?

    - Mệ làm sao biết được cái điều ấy. Con hỏi cha lúc khách về hết. Cha mới có thể biết nổi cái việc con hỏi mệ.

    Một hôm người em trai của bà Hà Thị Hy đến chơi với vợ chồng anh cử Sắc. Thông cảm với cảnh nhà của bà đồ và của cháu, ông bàn với anh Sắc :

    - Cậu không thể ngờ có một ngày cháu lại là ông cử nhân, là quan cử! Từ một đứa bé mồ côi cha mẹ, chăn trâu cắt cỏ, nhờ phúc ấm của ông bà đồ mà cháu được như ngày nay. Cha mẹ cháu dưới suối vàng hẳn là mát dạ. Nay cậu ngẫm thấy, bà đồ tuổi già, sức yếu, vợ cháu một nách ba con nhỏ, d́ An rồi cũng sẽ về làm dâu người ta. Cho nên, cháu cần phải sớm ra làm quan để gia đ́nh được ấm thân, họ hàng mát mặt, cháu ạ.

    - Cậu ơi, - anh Sắc giọng chùng xuống, - cháu đi học không phải để làm quan. Nước mất rồi, từ thứ dân tới quân thần đều là một bầy nô lệ.

    - Cậu cũng có biết nghĩ về cái điều ấy. Những người có ḷng nhân từ, đỗ đạt cao th́ cần phải ra gánh vác việc quan để che chở cho dân, thực hiện cái đạo công bằng ở cái thời buổi ni...

    Anh Sắc lắc đầu :

    - Làm ǵ có công bằng ở trên đời này, hở cậu - Anh dằn từng tiếng: - Công bằng viễn lộ hà xứ thị (Sự công bằng là con đường xa không biết ở cái xứ nào cả). Ḷng tham của con người là vô đáy. Cho nên, đă làm quan là có quyền th́ ḷng tham càng ghê gớm. Con đường trước mắt cháu là : Cháu c̣n phải học thêm nữa. Và cháu c̣n sẽ tiếp tục thi lại đại khoa. Thi là để biết cái vốn học vấn của ḿnh chứ không phải v́ cái hàm ông nghè, làm quan to. Mục đích của cháu là cốt có nhiều chữ để rồi đây cho con cháu, biết rộng về nghề thuốc mà giữ nhà, chữa bệnh cứu người. Cháu không làm được cái công việc "thượng y y quốc" th́ cháu làm cái phần việc "trung y y dân" (23), cậu ạ...

    Bé Côn đang nằm vơng với bà ngoại nghe cha nói với ông trẻ là sẽ đưa vợ con vào kinh đô ở để học thêm. Côn hỏi bà :

    - Bà ơi. Cha cháu vô kinh đô thi Hội, rồi lại trở vô để học, chắc đó là một làng đẹp lắm, bà nhể?
    - Kinh đô là kẻ chợ lớn nhất và đó là nơi vua ở, chứ không phải làng, cháu ạ.
    - Ồ! Kinh đô là nơi vua ở! Rứa th́... cháu... cháu vô đó với cha cháu để coi mặt vua có khác chi khôông?
    - Ấy chết. Cháu chớ nói rứa. Phải tội đó. Vua là con trời, thay trời chăn dân. Ai nh́n mặt vua mà không được vua ưng bụng th́ sẽ bị mù mắt, cháu ạ.
    - Vậy ra vua là do trời sinh chứ không có mẹ vua sinh ra vua, hả bà?
    - Trời chỉ đầu thai xuống trần thế, rồi mẹ vua mới đẻ ra vua. Bà cũng chỉ biết có rứa thôi...
    - Kệ, cho mù mắt cháu cũng cứ nh́n vua cho bằng được. Mù mắt chứ có mù tim mô mà sợ ạ!
    - Ai dạy mày nói gở rứa Côông?
    - Dạ... ông Xẩm nói : "Tao mù mắt không đáng sợ bằng kẻ mắt sáng mà tim mù”, bà ạ.
    - Thôi nhớ Cháu chớ nói kiểu quái gở ấy nhớ.

    Một đêm thu. Gió chướng thổi dài hun hút tràn qua mái nhà. Tiếng gió hú xa trên đỉnh núi Chung. Ngọn đèn ở giữa nhà ngợp gió run rẩy. Anh cử Sắc, anh cử Quư, anh nho San ngồi quanh ngọn đèn, trên tấm chiếu cạp điều trải kín mặt cái sập gu. Chiếc điếu ống khảm xà cừ, ṿi trúc cong ṿng đặt cạnh bộ trà Huế mà anh Sắc vừa mua trong chuyến đi thi Hội về. Bên chân sập gu là cái ḷ than hồng. Siêu nước sôi trên bếp ḷ thở ph́ ph́. Chè ướp sen được chuyên ra chén tỏa hương ngọt dịu. Đỉnh trầm vẫn lặng lẽ nhả ḍng khói mảnh thơm trước ba tâm hồn đang trăn trở. Cả nhà đă ngủ yên giấc. Chỉ có chị cử Sắc vẫn c̣n ngồi dệt vải ở gian buồng đằng Tây. Vầng trăng nghiêng soi trên khóm chuối ngoài cửa sổ..Côn nằm trên cái chơng tre cạnh khung cửi của mẹ. Ánh trăng như tấm vóc vàng phủ quanh giấc ngủ của Côn. Tiếng anh nho San trầm trầm :

    - Từ dạo anh cử Sắc vào kinh Hội thí đến giờ, nghĩa quân liên tiếp bị thất bại. Nghĩa quân đă phải rút lên tận dăy núi Vụ Quang. Và... nghe đâu cụ Đ́nh ngài đang lâm bệnh nặng từ sau cái chết của Cao Thắng!

    Ba người cùng thở dài và đầu hơi cúi xuống bên đỉnh trầm tuôn khói vật vờ. Anh cử Quư giọng tin tưởng :
    - Mới rồi nghĩa quân đánh một trận lớn ngang dăy núi Trường Vật, giết tại trận được tên quan Tây chỉ huy. Nhưng Hoàng Cao Khải không dụ được quan nghè Phan đă dùng hạ sách khủng bố các gia đ́nh của nghĩa quân và đàn áp dân Hà Tĩnh thật khốc liệt. Hoàng Cao Khải lại c̣n xúi triều đ́nh triệu tổng đốc An Tĩnh là Đào Tấn về kinh v́ nghi ông có cảm t́nh với cụ.

    - Ở trong kinh đô, - anh cử Sắc kể, - nhiều người chưởi công khai việc làm bất nghĩa của Hoàng Cao Khải. C̣n cái chuyện tên Cao Ngọc Lễ bán thầy hại nước đă được lưu bia miệng : "Vô địa khả dưng Cao Ngọc Lễ; Thiên kim nan thục Tống Duy Tân". (24)

    - Được lắm. Câu đối được lắm. - Nho San và cử Quư gật gù và mỉm cười.

    Nho San như muốn thông báo thêm t́nh h́nh với cử Sắc :

    - Nghĩa quân miền Trung và ở các nơi đang bị ră đám dần, nhưng ngoài Bắc nghĩa quân Đề Thám c̣n đứng vững ở Yên Thế. Rất đáng lo là triều đ́nh Măn Thanh đă bắt tay với bọn Pháp rồi. Chính quân nhà Thanh đă bắt quan thân thần Tôn Thất Thuyết đem đi an trí ở xa vùng biên giới Việt - Tàu và không giúp vũ khí cho các nghĩa quân của ta nữa.

    Anh cử Sắc phân trần :

    - Quốc vận lạc vong nan hiệu lư (25). Cho nên, tôi đă tính việc học thêm ở Quốc tử giám để rồi lại thi Hội khoa Mậu Tuất (1898).
    - Nhưng - anh cử Quư hỏi - loại học tṛ nghèo như cánh ḿnh làm sao vô nổi cái trường của "hoàng gia, quư tộc ấy"?
    - Tôi đă được ông Hồ Sĩ Tạo gửi gắm cho quan thượng Cao nhận là người thân thích. Trường Quốc tử giám đă nhận tôi vào và coi như một "ấm sinh" vậy.
    - Vậy th́ - nho San nói - tốt rồi. Anh cứ vô kinh đô học, tôi cũng tiếp tục ôn luyện để rồi dự thi Hương nữa. C̣n anh Quư th́...
    - Tôi vẫn cứ cái công việc - anh cử Quư đỡ lời anh nho San - "đít trẻ roi thầy", chờ thời thế...

    Ba người tṛ chuyện cho tới lúc trăng lặn. Chị cử Sắc cũng đă ghé lưng xuống chơng, ôm bé Côn vào ḷng.

    ---------------
    Chú thích:

    (21) Các khoa thi nho học. Hội : Khoa thi mở ở kinh đô để các cử nhân vào thi trước khi thi Đ́nh.
    (22) kinh nghĩa là bài văn giải thích về những câu hỏi trong sách kinh điển. Chiếu là lời vua hiệu triệu, ban bố lệnh cho thần dân, biểu là bài văn của thần dân dâng lên vua để chúc mừng hay tạ ơn, bày tỏ điều ǵ. Văn sách là bài trả lời những câu hỏi nêu ra.
    (23) "Thượng y y quốc" đại ư là : chữa được bệnh cho nước, là thầy thuốc bậc cao; "trung y y dân" là chưa được bệnh cho dân, là thầy thuốc bậc trung.
    (24) Không đất để dung Cao Ngọc Lễ, Ngàn vàng khó chuộc Tống Duy Tân. Câu này c̣n được truyền tụng theo đúng luật đối chỉnh từng từ : "Vô địa khả mai Cao Ngọc Lễ-Hữu tiền nan măi Tống Duy Tân" (Không có đất để chôn Cao Ngọc Lễ, có tiền cũng không mua nổi Tống Duy Tân). Cụ Tống Duy Tân là thầy học của tên Cao Ngọc Lễ. Tên Lễ đă lừa mẹo bắt thầy nộp cho bọn Pháp để được thăng quan tiến chức.
    (25) Việc nước đang suy th́ khó mà xoay xỏa.

    Llévame lejos que cuando estoy contigo parece cerca.


    ...
    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

  6. #6
    FA - Everything will be okay!
    Category Moderator

    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    61.346
    Next Level: 0

    Phần 5





    5.1

    Sương sớm ám mái nhà. Tiếng chim cu gáy trên khóm tre làng xa văng vẳng. Nắng trải vàng rộm đồng quê. Bóng nắng núng nắng trước ngơ. Trên sân, Khiêm và Côn chạy ra chạy vào tíu ta tíu tít với mấy thứ đồ chơi quen thuộc mà hai anh em sắp phải xa chúng. Trong nhà, hai mâm cơm đă dọn sẵn, không ai muốn ăn trước cái cảnh người đi xa, người ở lại. Hai mâm cơm được đậy hai cái lồng bàn sơn son. Bà đồ tay luưnh quưnh điểm lại từng thứ đồ đạc trong hai cái thúng của con gái sắp đi theo chồng vào kinh. Bà nh́n trăn nh́n trở bó dép mo cau do bà làm cho con và cháu mang đi đường trường, nước mắt ướt mèm g̣ má nhăn nheo nhưng bà vẫn giữ vẻ thản nhiên trước con và cháu. Chị cử Sắc ngồi ở trong buồng với em gái và con gái. Chị dặn cô An lo toan những công việc nhà trong khi chị đi vắng, và thay chị làm mẹ dạy dỗ cháu Thanh. Chị lại dặn con gái ở nhà thay mẹ chăm sóc bà ngoại lúc trái gió, trở nắng.

    Bóng nắng đă trải lên sân. Bà con hàng xóm và bạn hát phường vải lần lượt đến tiễn đưa gia đ́nh "quan cử, vô kinh. Vợ chồng anh Thuyết, anh cử Quư, anh nho San đều đă có mặt.

    Bé Côn chợt nhận ra đă đến giờ ḿnh và anh cùng cha mẹ đi xa nhà. Côn chạy từ ngoài hè nhà sà vào ḷng bà. Khiêm cùng chạy theo em, ôm choàng lấy cổ bà. Bà đồ ôm choàng lấy cháu, môi mím chặt không cho bật lên tiếng khóc. Phải một lúc nghẹn ứ cổ bà mới nói trôi mấy tiếng : "... Các cháu đi đường ngái (xa), bà lo lắm... Bà ở nhà sẽ khấn tổ tiên phù hộ cho các cháu, cho cha mẹ các cháu được chân cứng đá mềm".

    Bé Khiêm lắc lắc cổ bà :

    - Bà! Bà lại khóc rồi!

    Côn ngước mắt nh́n bà, lau nước mắt trên má bà. Nhưng hai mắt Côn lại tràn lệ, bà phải lấy chéo áo lau khô cho cháu.

    Một không khí rộn rịp giữa kẻ ở với người đi. Chị cử Sắc xỏ chân vào dép mo cau, đặt gánh lên vai. Bé Thanh vẫn bịn rịn bên chân mẹ. Cô An, các cô bạn gái xúm xít quanh chị Sắc. Bé Khiêm đă chạy ra ngơ trước. Bé Côn cầm tay bà ngoại đi sau mẹ. Anh cử Sắc mang tay nải vải tây điều, ô gọng đồng mắc ngang khuỷu tay, chân đi dép da ḅ mỏng. Anh bước từng bước chậm răi giữa đám bạn danh nho và anh em bên làng Sen sang tiễn đưa. Lúc đi ngang qua bờ giậu, anh cử Sắc lưu luyến nh́n những bông cúc mới nở. Anh cử Quư mỉm cười ứng khẩu :

    Hoa cúc vàng vườn sớm,

    Anh nho San tiếp:

    Giậu tre xanh gió thu.

    Anh cử Sắc giọng bùi ngùi:

    Đường vào kinh muôn dặm,
    Giấc hương quan hằng mơ...


    Ngoài cổng làng, ông Xẩm cất lên những tiếng đàn bầu réo rắt và lời ca thảm thiết :

    ...Trách ông trời chuyển vận ra sao,
    Thiệt công bao kẻ anh hào ra tay
    Nước Nam ta sao lại có Tây,
    Thần dân quyết đánh, vua rầy không nghe
    Khăng khăng chịu khuất một bề
    Muôn dân kẻ chợ nhà quê than thầm :
    Nước Nam làm cho nước Tây ăn...


    Lúc đám người tiễn gia đ́nh anh Sắc đi tới cổng làng, ông Xẩm vẻ mặt âu sầu nói :

    - Kẻ mù ḷa này thường được cụ đồ ban lộc và được người trong gia đ́nh quan cử Sắc dành cho những miếng ngọt miếng bùi. Nay quan cử đưa cả gia đ́nh vô kinh, tui xin ca một lối để tỏ bày cái nghĩa nước t́nh làng ạ.

    Mọi người dừng quanh ông Xẩm. Khiêm và Côn đứng sát ngay phía cần đàn, chăm chú nghe :

    Anh nho San nh́n mặt các bạn bè, vẻ trầm tư, nghĩ ngợi về bài ca của ông Xẩm. Anh cử Quư gật đầu, nói nhỏ nhẹ: "Đầu nhọn như chông? Vậy là cái nón thúng sẽ mất, cái nón chóp (nón bài thơ) sẽ thịnh hành. Xương đeo trước ngực? Cái khuy áo này - anh sờ lên khuy áo tết bằng vải - cũng sẽ thay bằng xương, bằng ngà. C̣n... ông? Ông sẽ về?..." Nho San, cử Sắc, cử Quư nh́n nhau rồi im lặng bước đi. Bé Khiêm, bé Côn th́ chỉ thấy thú vị về ngón tay đàn của ông Xẩm như biến hóa trên sợi dây đồng, trên cái cần tre mà tạo ra một chuỗi âm thanh trong như ngọc rót vào tai, xao xuyến trong ḷng.

    Đoàn người tiễn đưa gia đ́nh cử Sắc đi xa dần. Chị cử Sắc là người cuối cùng chào ông Xẩm và chị đặt vào bàn tay ông mười đồng tiền hiệu Thành Thái. Tiếng đàn bầu của ông Xẩm vẫn văng vẳng theo ra phía đường quan và lan rộng trên cánh đồng nắng dát vàng thu. Tới con đường quan, anh cử Sắc dừng lại, đứng trước bà đồ :

    - Trời khá trưa rồi, chúng con xin mời mệ về kẻo mệt. Vợ chồng con và hai cháu luôn luôn cầu mong mệ ở nhà mọi sự được b́nh yên. D́ An, cháu Thanh sẽ thay vợ chồng con sớm hôm chăm sóc mệ. Chừng nào con học đỗ đạt, chứng con lại sẽ trở về làm ấm tuổi già của mệ.

    Bà đồ sụt sùi, tay xoa đầu hai cháu Khiêm, Côn :

    - Các con... đi... đi cho chân cứng đá mềm.

    Anh cử Sắc chắp hai bàn tay lại, giơ lên vái : "Xin cảm tạ bà con, chú, bác, o, d́, bầu bạn đă đi với gia đ́nh tôi khá dài đường đất. Đến đây, tôi cầu chúc mọi người ở lại an khang...". Anh cử Quư, nho San, anh Thuyết đều chắp tay vái lại anh Sắc. Chị Sắc nước mắt ṿng quanh, bịn rịn với con gái, em gái và các bạn hát phường vải... Ai nấy giọt ngắn giọt dài, không muốn rời tay... Một cơn gió thổi cuốn theo những chiếc lá vàng, cát bụi chạy dài trên con đường nắng quánh. Bé Côn ôm chặt cổ cha, mặt vẫn ngoảnh lại phía sau gọi : "Bà a... ơi bà về nhớ...". Những cái nón, dải khăn giơ lên vẫy theo và khuất dần sau rặng cây bên lối về làng Chùa.

    Thành phố Vinh hiện ra trước mắt cậu bé Côn. Lần đầu tiên Côn thấy có nhiều đường tỏa ra như bàn cờ và nhà cửa ở san sát dọc theo đường dài tăm tắp. Côn càng ngơ ngắc trước những ḍng người đi chân đất, quần áo rách rưới. Lại có cả những kẻ ngồi trên xe cho người kéo!

    Côn níu chặt bàn tay cha, bước chầm chậm trên hè phố. Đôi dép mo cau ôm chặt dính vào hai bàn chân Côn thon thon như hai chiếc lá non. Côn chăm chú nh́n cảnh vật mới lạ trên đường phố, quên đói bụng, mỏi chân. Chị Sắc nh́n con, hỏi :

    - Con đă đói bụng chưa? Mệ để sẵn khoai xéo cho hai anh em trong thúng ń.
    - Khôông. Con khôông thấy đói bụng, mệ ạ.

    Một người gầy g̣, đội nón gỗ, chân đất, vấn xà cạp từ đầu gối xuống mắt cá chân, đang khom người về phía trước kéo chiếc xe gọng đồng mui trần. Trên xe, một người ngồi ngả hẳn về phía sau thành xe, bụng to vượt mặt, cái mũi to h́nh thuyền choán hết bộ mặt râu xồm xoàm, mắt mèo, miệng ngậm cái điếu như củ tỏi, khói x́ ra đằng mũi. Côn siết chặt bàn tay cha, mắt chằm chằm nh́n theo cái xe kéo, chân bước sát gót chân cha, hỏi :

    - Cha ơi! Răng... cái ông to đùng, bụng phệ lại nằm trên xe bắt ông gầy g̣ kéo đi, hả cha?

    - Ê. Con... con nói nho nhỏ chứ. Tây... người Tây dương đó. Nước Nam ta đă mất cho người Tây dương rồi. Bây giờ họ bắt người Nam ḿnh làm việc ǵ đều phải è cổ ra mà làm, con ạ.

    Lặng lẽ đi bên cha một lúc, Côn lại sửng sốt nh́n dăy thành cao, hào sâu và trước cửa thành có lính gác, cờ tam tài (26) bay giữa nắng chói chang.

    - Cha ơi ! Cái nhà! Cái nhà của ai mà có hào bao bọc, có tường xây cao dày, cổng lại có lính gác vậy cha? C̣n có cả cờ kia nữa!

    - Không phải nhà mô mà là thành... thành Vinh con ạ.

    - Những ai được ở trong đó, thưa cha?

    - Có quan tổng đốc đứng đầu tỉnh. C̣n có cả các quan bố chánh, án sát nữa, con ạ. Nhưng ngày nay, nước Nam ta bị người Tây dương chiếm đoạt mất rồi! Cho nên, bên cạnh quan tổng đốc người Nam c̣n có quan công sứ, giám binh người Tây, chúng cai trị dân ḿnh qua đám quan lại bản xứ.

    - Bản xứ là ǵ, hả cha?

    - À à quên. Cha cứ quen miệng nói chữ như lúc tṛ chuyện với bạn bè. C̣n nghĩa chữ bản xứ là nơi ḿnh ở con ạ.

    Côn hỏi, vẻ ṭ ṃ :

    - Quan tổng đốc nào ở trong thành, hả cha?

    - Mấy năm vừa rồi có quan Đào Tấn làm tổng đốc An Tĩnh. Vua vừa mới vời ngài về kinh làm quan thượng thư Bộ Công. Hiện giờ chưa có quan tổng đốc mới đến thành Vinh ni, con ạ... Mà con hỏi làm chi những việc đại sự ấy, chẳng có ích lợi chi cho con cả.

    - Con hỏi chuyện để cha vui chuyện mà quên mỏi chân, con cũng vui chân đi bộ, cha đỡ phần cơng con.

    Anh Sắc nh́n xuống đôi chân bé nhỏ của con, mỉm cười Chị Sắc nhắc con :

    - Con chạy lên trước đi với anh cho vui.

    -Con nỏ thích đi với anh Khơm (Khiêm) mô. Đi với cha được vui chuyện, chứ đi với anh Khơm cứ im ỉm chán lắm.

    Khiêm vẻ ức với em, quay lại nói :

    - Nhớ nhá... nhớ nhá. Từ rày đừng ḥng tau bày cách dán dều (diều) cho nữa nhớ. Tau cũng nỏ cho chơi chung cá thia lia nữa.

    - Anh không cho em chơi dều chung, chơi cá thia lia chung th́ em cũng nỏ nhắc bài học thục trầm (thuộc ḷng) cho anh nữa.

    - Thục trầm! Thục trầm được "Trống tràng thành lưng lay bóng nguyệt", rồi "Long lanh đáy nước in trời. Thành xây khói biếc non phơi bóng vàng", rứa mà lúc thấy dăy thành Vinh lại nói với cha : đó là cái nhà to! Êu ôi! Thục trầm như rứa có ích chi mô?

    Bị anh chế, Côn phụng phịu chạy đến phía cha...


    5.2

    Con đường thiên lư vào kinh đô Huế thưa thớt bóng người. Những người "trẩy kinh" hầu hết đi bằng cáng. Thỉnh thoảng có những người phu trạm phi ngựa bụi mù mặt đường. Côn ôm lưng cha, mắt ghé theo bóng dáng chàng kỵ sĩ bay trên dặm xa mù tắp. Tiếng nhạc ngựa đọng lại trong tâm hồn hoang sơ của Côn.

    Gia đ́nh anh Sắc kết bạn với một số khách bộ hành để đỡ lo cướp lo hổ báo trên các chặng đường rừng hẻo lánh.

    Hằng ngày chị Sắc dậy từ gà gáy đầu, thổi cơm, vắt mỗi người một nắm đem đi ăn trưa trên đường. Buổi chiều, lúc mặt trời chen xuống núi, vợ chồng anh Sắc lại đưa hai con vào nghỉ nhờ qua đêm ở những làng gần đường quan nhất. Nhiều hôm gặp trời mưa to, Côn ngồi ăn cơm nh́n ra sân, từng hàng bong bóng trôi lềnh bềnh. Côn muốn ở lại để tránh mưa và cùng anh Khiêm chơi tṛ đua thuyền lá trên sân nước. Nhưng sợ cha mắng, Côn ṿi mẹ :

    - Mệ! Mưa to quá. Đi không nổi mô, mệ ạ. Mệ xin với cha ở lại hôm sau trời tạnh ráo hẵng đi, mệ nhớ!

    Khiêm hơi trề môi lườm em :

    - Được cha cơng mà c̣n sợ mưa!

    - Em cũng phải tự đi chứ, cha có cơng em cả ngày mô.

    - Hừ. Lại c̣n được ngồi vô thúng để mệ è cổ gánh đi nữa. Mi sướng có kém chi mấy ông nằm trên cáng cho phu khiêng?

    Côn lắc đầu nói với anh theo lối đọc vè :

    Em ngồi trong thúng,
    Mẹ gánh cân vai.
    Mẹ đi đường dài,
    Nghe em kể chuyện...


    Chị Sắc mỉm cời, nói nhỏ nhẹ với hai con :

    - Em nó c̣n bé bỏng, chưa thể đi dài đường đất được th́ cha, mệ phải na bế đôi đoạn. Anh cả đừng nên tị nạnh với em, nghe không. C̣n Côông th́ phải chịu khó đi mưa đi nắng, làm quen với cái khổ dần đi, con ạ. Ở đời chẳng ai phải tập ăn sang mặc sướng mà phải rèn chí chịu khó, chịu khổ để nên người.

    Nghe lời mẹ, Côn vui vẻ bám lưng cha, trùm kín tơi lá đi trong mưa gió. Vào đến đèo Ngang. Trời trong vắt. Gió biển gọi cây ngàn. Gia đ́nh anh Sắc nghỉ chân trên băi cỏ dưới chân đèo. Chị Sắc lúi húi soạn cơm nắm, cà muối để chồng con ăn cho chắc bụng trước lúc vượt đèo Anh Sắc giở sách lịch xem ngày, giờ... Bé Khiêm ngồi bệt xuống cỏ, ôm bàn chân tấy đỏ. Chị Sắc giục bé Khiêm :

    - Mệ đă nhủ con là phải dầm nước đ-á-i của ḿnh lên hai bàn chân th́ khỏi... Nước đ-á-i nóng từ trong người ra là một liều thuốc quư đó, con ạ.

    Lần đầu thấy dăy núi cao nằm chắn ngang con đường thiên lư, bé Côn đứng tần ngần, tay mân mê cái vuốt hổ bịt bạc xâu vào cái ṿng bạc treo ở cổ, mắt đăm đăm nh́n lên đỉnh đèo Ngang. Gió biển lật lật tà áo năm thân, hai cụm tóc trái đào bay loa xoa quanh đầu mà bé Côn vẫn không hay biết. Bất chợt, Côn hỏi :

    - Cha ơi cha, trên đỉnh núi kia có cái chi vắt qua núi, màu đo đỏ như sợi dây ngoằn ngoèo ấy cha?

    Anh Sắc nh́n lên đèo :

    - Ồ! Cái như sợi dây đo đỏ nằm ngoằn ngoèo trên núi ấy là con đường ṃn đó con ạ. Lát nữa cha con ḿnh sẽ leo lên đó rồi mới sang bên kia dăy núi được.

    Côn nhảy ḷ c̣, miệng líu lo :

    Núi cơng con đường ṃn
    Cha th́ cơng theo con
    Núi nằm ́ một chỗ
    Cha đi cúi lom khom
    Đường bám ĺ lưng núi
    Con tập chạy lon ton
    Cha siêng hơn ḥn núi
    Con đường lười hơn con


    Anh Sắc gập sách lại, mỉm cười, mắt lấp lánh thêm vui nh́n hai đứa con trai. Chị Sắc th́ phủi phủi bàn tay rồi xoa đầu bé Côn :

    - Con nh́n phong cảnh mà vận ngay thành vần thành vè. C̣n anh cả th́ chậm chạp, thua em rồi nớ.

    Khiêm phụng phịu :

    - Nó được cha cơng trên lưng, con b́ với nó mô được.

    Côn ngồi thụp xuống bên anh, tay nhón miếng cơm nắm, thanh minh:

    - Em lớn bằng anh, em cũng tự đi được như anh mà.

    Anh Sắc giọng ân cần :

    - Ăn quàng cho xong bữa để c̣n leo dốc kẻo tối giữa truông, các con ơi.

    Mặt trời ngó xuống đỉnh đèo. Bé Côn đ̣i cha cho được tự leo lên dốc, lúc nào mệt th́ cha hẵng cơng. Khiêm đi trước. Bé Côn níu bàn tay cha đi sau anh. Chị Sắc gánh trĩu vai đi sau cùng. Nắng xiên khoai, bóng bốn người đổ dài trên đèo thăm thẳm cao. Qua khúc lượn quanh sườn núi, gió lồng đẩy lùi lại, họ phải nhoai người lên phía trước, tay níu cây bên đường mới bước lên được từng bậc dốc... Bé Côn bám sát theo anh, bàn chân mum múp phải x̣e ngón ra bấm vào mớm đá. Anh Sắc đi sau, một tay vịn cây, một tay đỡ lấy mông của bé Côn mà đẩy lên dốc. Chị Sắc áo sũng mồ hôi vẫn theo sát gót chồng con. Đằng sau chị Sắc c̣n có những tốp người đi vào kinh đô cũng đang tiếp tục vượt đèo. Trên đỉnh đèo cao. Gió lộng. Biển trải dưới chân đèo, xa mênh mang. Mọi người ngồi nghỉ chân, phanh ngực đón gió lành.

    Bé Côn trầm trồ nh́n ra phía chân trời xa :

    - Cha ơi cha! Cái ao... Cái ao lớn quá!

    Anh Sắc cười, bảo :

    - Biển đó con ơi.

    Khiêm cũng nh́n theo hướng nh́n của em và quên cả bỏng rát trên hai chân, la to :

    - Ồ, biển! Biển!

    Côn lại chỉ trỏ :

    - Ồ! Ḅ... con ḅ to lội trên biển!

    Anh Sắc cười. Chị Sắc càng không nén được tức cười về cái nh́n ngộ nghĩnh của con. Anh Sắc giải thích :

    - Không phải ḅ đâu, con ơi! Thuyền đó. Thuyền chạy bằng buồm theo chiều gió... con nhớ chưa?

    Côn lại nhảy tâng tâng :

    Biển là ao lớn
    Thuyền là con ḅ
    Thuyền ăn gió no
    Lội trên mặt nước
    Em nh́n thấy trước
    Anh trông thấy sau
    Ta lớn mau mau
    Vượt qua ao lớn.


    Anh Sắc bâng khuâng nh́n con và cảm thấy ở đứa con có thiên tư khác thường.

    Côn ôm lấy cổ cha, bóng trải dài trên đỉnh đèo Ngang cao ṿi vọi. Biển xanh xa vẫy gọi dưới chân bé Nguyễn Sinh Côn.

    Từ trong triền núi xa xa vọng tới tiếng chim: Quốc... quốc gia... gia... quốc... quốc... gia... gia... Côn hỏi cha :

    - Ở đây cũng có chim quốc và có cả tiếng chim chi đó nữa, nghe "gia gia", lạ quá, cha ạ.

    - V́ có loài chim ấy kêu mà người xa đi qua đây đă vịnh thơ : "Nhớ nước đau ḷng con cuốc cuốc... Thương nhà mỏi miệng cái gia gia...” (27)

    Côn hai tay vẫn ôm chặt cổ cha, nhắc từng tiếng thơ "Nhớ nước đau ḷng con cuốc cuốc" theo nhịp bước cửa cha xuống dốc đèo Ngang...

    ---------------
    Chú thích:

    (26) Cờ ba màu, xanh, trắng đỏ (cờ nước Pháp).
    (27) Thơ của Bà Huyện Thanh Quan

    Llévame lejos que cuando estoy contigo parece cerca.


    ...
    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

  7. #7
    FA - Everything will be okay!
    Category Moderator

    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    61.346
    Next Level: 0

    Phần 6





    6.1

    Sau một tháng đi bộ ṛng ră trên con đường dài hàng trăm dặm, gia đ́nh anh cử nhân Nguyễn Sinh Sắc vào tới kinh đô Huế. Anh đưa vợ con đến ở đậu tại ngôi nhà tranh ba gian, có một chái làm bếp.

    Ngôi nhà này cũng trong một dăy nhà đồng loạt gần Viện Đô Sát, tại thành nội. Đây là nhà dành cho những viên chức nghèo và gia đ́nh lính khố vàng ở nhờ.

    Một ông già đầu bếp của đội lính khố vàng hết tuổi ở lính đưa vợ con về quê, đă nhượng lại ngôi nhà cho anh cử Sắc. Với ba gian nhà xinh xắn, anh Sắc bố trí một gian phía ngoài, gần con đường đi ra cửa hậu thành, làm chỗ dạy học cho hai con trai của ḿnh và con em một số người quen thuộc. Gian giữa là nơi thờ gia tiên và kê bộ ván để tiếp bạn lúc ban ngày, tối là nơi ngủ của anh Sắc và bé Khiêm. Gian trong với cái chái nấu bếp là buồng, đặt khung cửi sát cửa sổ và lối đi ra nhà ngoài, nửa trong kê giường ngủ của chị Sắc và bé Côn.

    Nơi ăn chốn ở đă ổn định, chị Sắc bắt tay vào công việc kéo sợi dệt vải, lấy công làm lăi để nuôi con giúp chồng ăn học. Anh Sắc vào học Quốc tử giám, đổi tên là Nguyễn Sinh Huy.

    Nhưng bạn bè anh, bà con cùng xóm quen gọi ông cử Nghệ, bà cử Nghệ. Hằng ngày, anh đi bộ hàng dặm đường đến lớp học. Trường Quốc tử giám ở tận bên tả ngạn con sông Hương, phía tây thành Huế, thuộc xă An Ninh Thượng, huyện Hương Trà. Những giám sinh hầu hết là con cháu nhà vua, con cháu các quan đại thần. Họ đi dự b́nh văn bằng xe song mă (hai ngựa kéo) hoặc xe song loan (gần như cái kiệu, do hai người khiêng). Quần là áo lượt, có tiểu đồng hầu tráp đi theo. Riêng anh cử Sắc th́ vẫn cái ô gọng đồng cũ kỹ, đi guốc mộc. Sáng ra anh ăn qua loa với vợ con, mang theo đến trường một ít khoai lang, dăm ba quả cà hoặc đùm cơm độn ngô, khoai, chút cá mặn để ăn trưa. Xế chiều anh về nhà, bắt tay vào việc dạy học.

    Nghe tiếng "ông cử Nghệ" chữ nhiều và đức độ cao, nhiều người đến xin cho con học. V́ bận học để thi Hội, anh Sắc không nhận nhiều học tṛ, anh kèm cho con học và dạy thêm năm em nữa, trong số đó có Công tôn nữ Huệ Minh, Diệp Văn Kỳ...

    Lần đầu tiên đến kinh thành Huế, Côn ngơ ngác như chú nai con lạc giữa vườn hoa nhiều sắc màu rực rỡ và xen lẫn những cỏ gai khác lạ. Côn đi bên cha mà lại nhớ lời căn dặn của cha hôm đi thi Hội về: "Với cái tuổi của con, nghe điều ǵ, thấy việc ǵ đều là những bài học vỡ ḷng...".

    Côn và anh cả Khiêm được cha dẫn đi xem phong cảnh của đất "thần kinh" (28). Sau những cơn mưa, Huế ủ màu ảm đạm. Côn nh́n từng đám mây đực trôi trên bầu trời xám ch́. Đỉnh núi phía Tây kinh thành, những làn mây quấn h́nh vành khăn, trắng xốp. Côn định hỏi cha tên của ḥn núi mờ ảo giữa mây giăng như cảnh núi non trong truyện cổ tích th́ trước mắt Côn đă hiện ra một ḍng sông phẳng lặng. Côn thủ thỉ hỏi :

    - Cha ơi... cha, con sông ni có tên gọi không hả cha?

    - Có chứ con. Tên nó là Hương. Sông Hương.

    - Nước sông ni thơm lắm phải không cha?

    - Sao con nghĩ rằng nước của con sông ni thơm?

    - Ờ nhà ta thường thắp hương cúng, con thấy thơm lắm. Con nghĩ... nước con sông ni cũng phải thơm th́ người ta mới đặt tên nó là Hương, phải không cha?

    Anh cử Sắc chỉ cười.

    Không được cha giải thích về cái tên con sông đẹp như tên người con gái soi bóng kinh thành, Côn càng để mắt quan sát tỉ mỉ mọi cảnh sắc trên đất "thần kinh". Những cột khói bên sông, h́nh nấm, dát mỏng trên mái nhà ngói vảy rồng. Từng cơn gió đổ dài theo ḍng sông xanh xa hun hút, kéo theo những lớp sóng lăn tăn như những nếp da nhăn trên vầng trán ông già mù ở làng Chùa mỗi khi ca những bài ca thương nước loạn ly...

    - Nhà lầu đây, phải không cha?

    - Đây là Ngọ Môn, tức là cửa chính của hoàng thành, con ạ.

    Anh Sắc chỉ dẫn cho hai con của ḿnh thấy nơi vua và triều đ́nh nhà Nguyễn ở. Côn và Khiêm ngơ ngác trước những ṭa lâu đài nguy nga. Từ lối cửa ra vào thành đến những bậc xây xuống bến Phu Văn Lâu đều ngợp mắt thơ ngây của hai anh em Côn. Cái h́nh ảnh cung điện nhà vua, chàng hoàng tử, nàng công chúa trong các truyện cổ tích được bà, mẹ kể cho nghe trong những đêm khuya ở quê nhà lại hiện đến chen lấn với cảnh tượng thực đang bày ra trước tầm mắt của Côn.

    Côn nói với cha :

    - Con ngỡ ở làng ta mới có những người đói rách, nhà cửa tồi tàn khổ sở. Đây là kẻ chợ, là kinh thành, nơi vua ở mà vẫn có nhiều nhà tranh lụp sụp, nhiều người quần áo rách mướp, có cả những người đi ăn mày nữa.

    Anh Sắc giọng nghiêm khắc :

    - Con c̣n bé, đừng vội nghĩ những việc của người lớn.

    Bé Khiêm mắng em :

    - Mới nứt mắt mà hỏi rặt chuyện của người lớn. Lần sau cha đừng cho nó đi chơi phố nữa, cha ạ.

    Bé Côn xị mặt, cúi nh́n bàn chân ḿnh in trên lát đường dâm dấp nước mưa của đêm hôm trước. Những cái ổ gà đọng đầy nước lúng liếng như con mắt ướt đau đáu nh́n trời. Bỗng nét dỗi hờn trên mặt Côn bay biến. Hai mắt Côn chớp chớp nh́n về phía có tiếng nhạc ngựa : Ba chiếc xe song mă đang chạy tới. Côn níu chặt bàn tay cha, đi nép vào mí đường thành, nhưng mắt vẫn không rời những cỗ xe phủ rèm gấm. Những người ngồi trong xe đội mũ cánh chuồn, áo xa-tanh kép thêu hoa cúc, quần là, chân đi hia. Lại c̣n có những bà mặc áo vóc, áo nhiễu, đội cái khăn có tới hàng chục lớp tṛn như cái rế. Cả những con ngựa kéo các cỗ xe cũng được khoác trên ḿnh bộ đồ thêu nhiều màu sặc sỡ từng chuỗi hạt cườm óng ánh. Côn rất thú vị về bộ lục lạc trên cổ ngựa giống như những quả sung xâu thành chuỗi, quả ở giữa th́ to bằng trái ổi trâu.

    Sau những cỗ xe song mă là những tốp lính đội nón dấu, vác súng dài, áo thắt đai ngang bụng, bước lật đật, mắt nh́n lơ láo...

    Đi trên con đường về phía chợ Xép, mắt Côn bận rộn về ḍng người đi lại tấp nập, nào cáng, nào xe, nào gánh nào khiêng vác, vẻ tất bật. Xen trong đám đông của ḍng người nổi bật lên những cô gái áo tím, áo đào, áo nâu, nón thúng quai thao, nón g̣ găng, ô cánh dơi, ô trắng, ô đen... Côn níu tay cha lại :

    - Cha ơi! Cha có tiền trong túi không hả cha?

    - Con muốn mua cái chi nào?

    Côn chỉ tay về chỗ bà già gầy g̣, đội chiếc nón mê, trước mặt là chiếc mẹt con cũ kỹ, đứng bên cạnh bà già là hai chị em cô bé bằng sắp tuổi anh em Côn, gầy giơ xương, áo không, người lấm lem :

    - Con muốn cha biếu ba bà cháu ăn xin rú một ít tiền.

    Khiêm gật đầu:

    - Ồ, Côn nó nói phải đó, cha ạ. Cha cho bà cụ ni ít tiền đi cha.

    Anh Sắc vét trong túi áo được một ít tiền lẻ, bỏ vào mẹt cho bà cụ : "Chúng tôi biếu bà cháu cụ chút ít tiền mua lẻ gạo để đỡ ḷng".

    Bà cụ chắp tay vái : "Lạy thầy... lạy cha con thầy mớ vái. Xin trời phật phù hộ cho cha con thầy được nhiều tài nhiều lộc”.

    Hai đứa bé th́ nh́n ba cha con người cho tiền một cách biết ơn. Anh Sắc bước chậm răi, nói với hai con :

    - Các con xem, những người đói khát đi ăn xin đầy đường thế kia, ta lấy đâu ra tiền của mà cho khắp lượt được? Vả lại, ta có cho họ một bữa ăn th́ cũng chỉ là trợ đói cầm hơi được một ngày chứ chưa cứu họ thoát khỏi con đường đói khát.

    - Con thấy số người nghèo nhiều hơn số người giàu, phải không cha?

    - Phải rồi. Ở nơi nào cũng vẫn là cảnh người nghèo khổ đông hơn người giàu. Mà người giàu tiền giàu của th́ ngồi trên đầu trên cổ người nghèo, các con ạ. Các con cứ h́nh dung cái nón chóp úp sấp nó thế nào th́ sự sắp xếp kẻ giàu, người nghèo ở trên thế gian này cũng thế.

    Côn hỏi lại :

    - Tức là, số kẻ giàu chỉ bằng cái chóp mà người nghèo nhiều như cái vành nón, cha nhể?

    - Đại để là như vậy

    Vào tới cửa chợ Xép, Côn tần ngần nh́n hai dăy những thầy bói ngồi trên chơng tre, trước mặt là cái tráp, cái mai rùa... Người "kêu rêu” ngồi bệt dưới đất vái vái những người đi qua đi lại... ông già mù hát dạo ngồi trong mảnh chiếu con kéo nhị... Côn vụt nhớ về quê nhà : h́nh ảnh bà ngoại, d́ An, chị Thanh, đàn gà trên sân, tổ chim sẻ trên hồi nhà, tiếng sáo diều đêm trăng, làn ví dặm của các cô phường vải, và ông già Xẩm ngồi trên manh chiếu bên gốc cây đầu làng. Bên tai Côn c̣n văng vẳng tiếng ông Xẩm nói : Mắt mù không đáng sợ bằng sáng mắt mà tim mù. Rồi ông thường ca : "... Trách ông trời chuyển vận làm sao... Thiệt công bao kẻ anh hào ra tay... Nước Nam ta sao lại có Tây...".

    H́nh ảnh ông già mù hát dạo đă thoắt biến vào ḍng nghĩ lộn xộn của Côn. Và Côn đă bị hút vào những âm thanh ồn ào, cảnh tượng hỗn độn, náo nhiệt của chợ Xép. Hai anh em Côn muốn reo lên khi nh́n thấy hàng dăy những đồ chơi tết Trung thu.

    Khiêm năn nỉ cha :

    - Cha mua cho chúng con cái đầu sư tử và cái đèn ông trăng kia... cha...

    Anh Sắc vẻ mặt thoáng buồn :

    - Cha cũng muốn các con có những đồ chơi đẹp trong đêm tết Trưng thu đầu tiên ở đất "thần kinh" ni. Nhưng, cha sắp vào trường học, ta đành nhịn đồ chơi để tiền mua sách, mua giấy bút, các con ạ.

    Anh Sắc đưa hai con đi khỏi khu vực bán đồ chơi, Khiêm và Côn đi bên cha mà vẫn ngoái nh́n trở lại những cái đèn ông trăng, những đầu sư tử... cứ nhảy múa trước ánh mắt thơ ngây.

    Đến trước một cửa hàng sách, anh cử Sắc mua cho hai con bộ sách : Sơ học vấn tân và Ấu học ngũ ngôn thi. Anh nói với hai con :

    - Hồi cha mới nhập môn (ư là mới vào trường) chỉ được chép bài do thầy đọc chứ không có sách riêng. Hai bộ sách ni là do người nước Nam ta soạn cho người Nam ta học.

    Hai anh em Khiêm và Côn cầm hai cuốn sách, vẻ hào hứng nhưng vẫn chưa hết ước ao món đồ chơi tết Trung thu. Anh Sắc mua thêm bốn bộ sách : Minh tâm bảo giám, Luận ngữ, Trung dung, Mạnh tử.

    Ra khỏi cửa hàng sách, anh Sắc nói với hai con :

    - Số tiền mua mấy quyển sách ni bằng tiền gạo một tháng ăn của nhà ta, các con ạ.

    Bé Khiêm nh́n cha, vẻ ngạc nhiên :

    - Mất nhiều tiền rứa, cha? Răng cha chẳng để rồi mượn sách về nhà mà chép cho đỡ tốn tiền, hả cha?

    - Anh Khiêm nói phải đó cha ạ. Cha chép phần bài học của cha, chúng con chép phần bài học của chúng con. Con thấy nhiều bữa mệ của con thèm trầu mà cố nhịn v́ cau đắt, không dám mua cha ạ.

    - Cái đáng chi tiêu th́ không thể dè sẻn được, các con ạ. Học, phải có sách. Trong sách Ấu học ngũ ngôn thi cha vừa mua cho các con, cổ dạy : Di tử kim măn doanh, hà như giáo nhất kinh.

    Anh Sắc chưa kịp giải thích th́ Côn đă hỏi :

    - Nghĩa là ǵ hả cha?

    - Tức là để cho con ḥm vàng đầy không bằng dạy con một quyển sách. Các con rơ chưa?

    - Sách nói hay quá, cha nhể. - Khiêm tấm tắc.

    - C̣n có câu nào hay như câu ấy nữa không cha? - Côn ngây thơ hỏi cha.

    Anh Sắc cười :

    - Quyển sách con đang ôm trong tay có những hai trăm bảy mươi tám câu, mỗi câu năm chữ. Các con rồi sẽ học lần lần bằng hết ngần ấy câu. Cha ngẫm thấy câu nào trong quyển sách ấy cũng đáng nhớ, nhớ để làm được như sách dạy. Chẳng hạn câu : Dưỡng tử giáo độc thư, thư trung hữu kim ngọc, nghĩa là : Nuôi con phải biết dạy con đọc sách, v́ trong sách có vàng ngọc. Cho nên sách đắt tiền, nhà ta c̣n túng thiếu, cha mẹ phải nhịn các thứ khác để mua sách cho các con học.

    Nghe cha nói với một giọng trầm, tha thiết, Khiêm và Côn xúc động lặng người. Hai anh em đi bên cha, lặng lẽ ra khỏi khu chợ Xép. Anh cử Sắc để ư thấy nét mặt của hai con không hồn nhiên như cũ v́ xúc động điều anh vừa nói. Anh càng hiểu thêm là con ḿnh đă sớm cảm nhận được những việc của cha mẹ lo âu.

    Trên đường, một cô bán chè mặc áo dài trắng, hai đầu gánh là những cái trẹt chồng ba, chồng bốn tầng bát chè đầy, đủ các loại chè, dáng đi uyển chuyển, giọng rao thánh thót. Khiêm và Côn níu tay cha dừng lại nh́n cô hàng chè đi như múa mà những bát chè đầy không hề sánh ra ngoài.

    Anh Sắc ngỡ các con đói bụng, ṿi ăn chè. Anh gọi cô hàng chè rong, nhưng cô ta chưa nghe thấu th́ Khiêm đă kịp thưa với cha :

    - Con ưa nh́n kiểu gánh chè như múa chứ nỏ thèm ăn chè mô, cha ạ.

    Côn "hứ” anh một tiếng, nói với cha :

    - Con... con có thèm chè ngọt cha ạ. Nhưng... con nỏ thích ăn ở dọc đường mô. Về nhà mệ nấu chè cho con ăn, thích hơn, phải không cha?

    - V́ sao con lại không thích ăn quà ngoài đường - Anh Sắc hỏi Côn.

    - Mệ dặn : Các con là con nhà có chữ th́ phải biết trọng biết giữ... Đừng hám miếng ăn để rồi ai cho ǵ cũng lấy, gặp đâu ăn đó, mất nền nếp của con nhà lành.

    - Phải rồi. - Anh Sắc nh́n hai con - Các con luôn luôn nhớ lời mệ dặn, là rất tốt.

    Bóng ba cha con đổ dài trên đường lớp lớp bóng người qua lại. Bước theo cha, tâm hồn thơ ngây của bé Côn lắng vào âm vang chiều kinh đô Huế. tiếng trống thành điểm, tiếng ngựa hí ngoài đồn xa. Hoàng hôn buông xuống nhuộm tím ḍng Hương Giang. Sương chiều thấp thoáng giăng sa. Tiếng chuông chùa bay bay trong bầu trời Huế. Khiêm, Côn bỗng giật ḿnh v́ những tiếng súng trên kỳ đài nổ vang. Chín hồi trống ở Ngọ Môn nổi lên gióng giả. Côn hỏi cha :

    - Có chuyện chi rứa, thưa cha?

    - Đă đến giờ đóng cổng thành đó con. Từ giờ trở đi không ai được ra hoặc vô thành nội. Ch́a khóa cửa thành do một quan đề đốc giữ. Sáng mai quan đề đốc mới đưa ch́a khóa cho người mở cổng, sau lúc đó súng lệnh và trống "khai môn", các con ạ.

    Ở thành nội không lâu, Côn đă có nhiều bạn học chơi thân mà thân nhất là Công tôn nữ Huệ Minh. Huệ Minh thuộc ḍng dơi nhà vua, hơn Côn vài ba tuổi. Diệp Văn Kỳ là con ông Diệp Văn Cương người Sài G̣n, làm quan thông ngôn tiếng Pháp ít lâu cho vua Thành Thái, Kỳ cùng sắp tuổi với Côn. Tuy nhỏ tuổi nhất bé Côn vẫn làm trung tâm trong đám "học tṛ thành nội" của "ông cử Nghệ". Côn thường rủ bạn ra chơi ngoài Phu Văn Lâu. Côn hay đặt câu hỏi với các bạn mỗi khi thấy một cảnh trí lạ, một việc lạ hiện ra trước mắt. Hôm đầu tiên ra ngồi bến đá gần Phu Văn Lâu, chơi tṛ "ném cóc nhảy" trên sông Hương, Côn nh́n về dăy núi phía tây nam thành Huế, hỏi Công tôn nữ Huệ Minh :

    - Mệ (29) ơi mệ, con sông ni có tên là Hương, cái lầu kia là Phu Văn Lâu, cái cửa lớn ở chính giữa là Ngọ Môn, cửa bên là Thượng Tứ, là Đông Ba. Vậy cái ḥn núi tận xa kia tên là chi, hả mệ?

    - Ḥn núi nớ tên là Ngự B́nh, Côn ạ.

    - Ngự B́nh... - Côn chau mày, hỏi gạn: - Hương Giang là sông thơm. Vậy... Ngự B́nh nghĩa là ǵ, mệ có biết không?

    - Ḥn núi nớ thỉnh thoảng được hoàng thượng tới ngồi ngắm cảnh, nên gọi là "Ngự”. Núi ấy lại giống như cái b́nh phong chắn phía Tây Nam cho cung thành nên gọi là "B́nh".

    Côn lại nói :

    - Chỗ tụi ḿnh thường ngồi chơi ni th́ nên đặt tên là bến Ngự Đồng, nghe.

    Công tôn nữ Huệ Minh hơi sửng sốt nh́n Côn, Khiêm th́ trề môi : "Vẽ chuyện". Kỳ hào hứng : "Côn sáng ư lắm. Ta nên đặt tên cho những nơi chúng ḿnh hay tụ họp nhau lại chơi".

    Huệ Minh vẻ ngao ngán :

    - Chúng ḿnh đă phạm thượng! Vua là đấng thiên tử. Chúng ḿnh thuộc quyền chăn dắt của vua. Cho nên từ quan chí dân không ai được làm việc chi ngoài sự quy định của nhà vua.

    Côn chớp chớp mắt nh́n về phía điện Thái Ḥa, nhớ lại đă có lần bà ngoại nói với Côn : "Vua là con trời...". Côn chưa thể tin mà thấy một câu hỏi hiện lên trong ư nghĩ, liền hỏi Huệ Minh :

    - Trời là cha của vua sao trời lại để cho người Tây dương đến bắt vua nước Nam ta phải ở dưới quyền cai trị của họ?

    Huệ Minh và cả đám bạn nhỏ mặt tái mét nh́n sang phía ṭa khâm sứ, nh́n quanh bốn phía, sợ quan binh Tây nghe thấy.

    Khiêm mắng em :

    - Tau về mách với cha. Không th́... có ngày mi bị họ cắt lưỡi về cái tội nói nhảm, nghe.

    Côn không chịu thua :

    - Anh mách cha chuyện ni th́ em cũng sẽ mách cha về tội anh đă ném chim trên cây gần đại nội, suưt nữa th́ bị chú lính khố vàng chộp được.

    Kỳ dàn ḥa :

    - Cho qua... cho qua hết. C̣n cái chỗ chúng ḿnh ngồi chơi ni th́ gọi là "bến Ngự Đồng" như Côn nó đă đặt tên.

    Công tôn nữ Huệ Minh dỗi bỏ về. Côn đưa đám bạn nhỏ ra bờ sông con chơi tṛ "nói điện thoại".

    Dưới nắng trưa, con sông Đông Ba loang loáng màu đồng thau. Khiêm, Kỳ cầm cái ống bơ bưng bằng da ếch kéo theo một sợi dây tơ giăng dài bên sông. Côn và một nhóm khác cũng cầm một đầu sợi dây tơ ghim vào mặt ống bơ da ếch, lội sang sông. Côn nâng cái ống bơ lên miệng gọi : "A-lô... a-lô... nghe rơ không?” Có tiếng đáp: "Nói to lên... chưa rơ lắm!".

    Chị cử Sắc từ trong thành cắp bên nách cái rổ đi ra phía bờ sông. Một bạn nhỏ thấy mẹ của Côn liền giục cuống cuồng : “Mệ của mi... Côn ơi! Trốn mau đi". Côn ngước nh́n về phía mẹ. Khiêm và các bạn nhỏ đều đă trốn vào bụi cây ven sông.

    Chị cử Sắc v́ bị nắng quáng nh́n măi mới nhận ra con trai thứ của ḿnh đang đứng trầy trầy giữa nắng bên sông. Chị gọi to :

    - Côông! Về nhà ngay! Thằng Khơm mô nữa rồi! Ờ... Con nhà hư rồi, ra tận ngoài sông ni mà dầm nước! Chết đuối có ngày mất con ơi!

    Chị Sắc ghé vào bụi cây bẻ một cái roi. Kỳ kéo tay Khiêm chạy lủi lủi dọc bờ sông, gọi với Côn : "Chạy mau kẻo mệ mi đập... Côn ơi...". Côn không chạy mà rời khỏi bờ sông đi tới với mẹ. Chị Sắc tay cầm roi, giục :

    - Về nhà nằm để mệ hỏi tội, mau lên!

    Côn ngoan ngoăn đi về nhà. Đám trẻ thành nội cũng lục tục đi tít đằng sau. Về đến trước cửa, chị Sắc nhắc :

    - Rửa chân đă rồi vô phản nằm sấp xuống!

    Côn nằm úp mặt xuống phản, hai tay ôm lấy mông đít đợi những ngọn roi của mẹ. Chị Sắc ngồi xuống mé phản. Đám trẻ từ ngoài ngơ ngấp nghé nh́n vào. Chị Sắc dặt dặt cái roi xuống mông đít con :

    - Côông!

    - Dạ.

    - Sao con không nghe lời cha mệ dặn? Đă biểu là không được ra sông chơi đùa, lỡ sẩy chân chết đuối!

    Côn mếu máo, nói :

    - Con trèo cây th́ cha cấm, mệ nhủ : "Nhà có phúc sinh con biết lội, nhà có tội sinh con hay trèo". Giừ con tập lội th́ mệ...

    Chị cử Sắc ph́ cười mắng yêu : "Tổ cha cấy thằng... Đă vụng chèo lại khéo chống!" Chị ném cái roi ra sân, vỗ mấy phát bàn tay xuống mông con và cười gịn, nói :

    - Dậy! Mệ tha đ̣n cho rồi đó. Đi gọi anh Khơm về học bài. Cha ở Giám cũng sắp về rồi. Việc học là phải chăm chỉ. Học được nhiều chữ càng sáng mắt ra, con ạ. Mệ thường được nghe ông ngoại nói với cha con : “Chữ là mắt. Người không có chữ là coi như người mù ở thế gian", con ạ


    6.2

    Từ ban chiều, gió trở hướng xe mây về phía cửa sông. Kinh thành tĩnh lặng và lắng sâu vào bao la. Những cây đèn kính hộp đứng từng dăy dài quanh đường thành vào đại nội đă được thắp sáng. Ngoài Cồn Hến, những ánh lửa thấp thoáng như sao sa và ánh đèn li ti của các con thuyền neo trên sông bồng bà bồng bềnh, mặt nước từ phía kinh thành lên tận Kim Long sáng màu ngọc.

    Nguyễn Sinh Sắc ngồi xếp bằng trên phản, cùng uống rượu với quan thượng thư Bộ Binh Đào Tấn. Ba mẹ con chị cử Sắc ăn cơm ở gian nhà dưới, không dám đụng mạnh đũa bát, không dám ho hay dặng hắng một tiếng. Sự yên lặng của đêm kinh thành như lắng đọng vào gia đ́nh người học tṛ xứ Nghệ này.

    Cậu bé Côn không chịu nổi cái cảnh vắng lặng kéo dài. Côn cứ ngấp nghé ở cửa buồng nh́n mặt quan thượng thư. Côn nghe mẹ nói th́ thầm với hai anh em lúc quan thượng thư Đào Tấn vừa mới đến nhà ḿnh : "Một vị quan đứng đầu một bộ trong triều đến nhà một học tṛ nghèo mà không có lính cận vệ, không người hầu tráp đi theo là hiếm có ở đời đó, các con ạ". Côn vừa ngẫm nghĩ điều mẹ nhận xét vừa quan sát diện mạo quan thượng thư Bộ Binh Đào Tấn. Côn cảm thấy cha ḿnh với thượng thư Đào Tấn khác nhau về tuổi (30), giống nhau về cốt cách. Quan chỉ mặc có chiếc áo dài xuyến, quần bằng vải cát bá, chít khăn lượt, đi giày hạ (giày da láng, mũi nhái, hở gót), giống như cha lúc đến trường Quốc tử giám. Hai người ngồi vừa b́nh văn vừa nhấm nháp vị "rượu tiến” cửa quan Đào Tấn đưa đến. Nghe được điều ǵ của cha nói, của quan Đào Tấn nói, không hiểu thấu, Côn đến hỏi mẹ. Nhưng Côn không thỏa măn về những lời mẹ dẫn giải. Côn lại tựa lưng vào thành giường của mẹ, nghe cha tṛ chuyện với quan Đào Tấn.

    - Thưa cụ thượng, kẻ hàn sĩ này trộm nghĩ : Quan đi đôi với quyền. Quyền sinh quyền sát. V́ thế mới có câu : "Nhất tự cách trùng". Nhưng, cả xứ Nghệ chúng tôi, ai ai đều lưu lại trong tâm trí cái đức sáng của quan tổng đốc Đào Tấn.

    - Những năm ngồi trên ghế tổng đốc ở xứ Nghệ là thời gian có ích nhất trong đời làm quan của tôi. Bởi v́, người xứ Nghệ rất coi trọng lễ, nghĩa, liêm, sỉ. Đúng như người xa đă luận giải: Lễ - nghĩa - liêm - sỉ là bốn cái rường cột để giữ vững quốc gia. Nếu người trong nước mà vô lễ, vô nghĩa, vô liêm, vô sỉ th́ quốc gia ấy ắt sụp đổ và có thể bị diệt vong.

    Nguyễn Sinh Sắc vẻ thành kính:

    - Những bậc tai mắt ở Nghệ Tĩnh đều cho rằng, những vị thượng quan từ nơi khác đến chăn dân xứ Nghệ, chỉ có cụ thượng là bậc túc nho hơn cả.

    - Xin đa tạ về lời khen cao giá ấy. Thực t́nh, tôi đến ngồi ghế tổng đốc An Tĩnh chẳng khác người phải lĩnh trọng trách đến "đánh trống ở cửa nhà sấm". Và cũng nhờ có được những năm sống trên đất Nghệ, tôi mới có thêm hiểu biết để sửa chữa vở tuồng Sơn Hậu, nâng t́nh bạn giữa Đổng Kim Lân với Khương Linh Tá vượt lên khỏi quy tắc của tuồng cũ.

    - Đôi câu đối của cụ thượng ghi ở ngay cửa Tiền thành Vinh đă khiến cho hàng ngh́n con mắt tinh đời của dân xứ Nghệ thán phục.

    Quan Đào Tấn nhấp rượu, môi hé nở tươi, đôi lông mày dài quá mắt chuyển động. Ông nói :

    - Đó là một tấc ḷng của kẻ công bộc cho dân xứ Nghệ.

    - Thưa.... Không dám, thưa quan thượng thư. - Anh cử Sắc xuưt xoa về câu nói khiêm nhường của quan thượng thư Đào Tấn.

    Quan Đào Tấn vẫn một giọng nhún nhường :

    - Làm quan là làm người đầy tớ của dân chúng. Đó là điều tôi học người xưa. Ngày nay kẻ làm quan móc túi của dân mà không biết đỏ mặt nhiều vô kể. Nhưng dân không dám đuổi cổ quan đi là bởi quan nhiều quyền, dân không có thế lực. Thiết tưởng dù dân không làm ǵ nổi th́ kẻ làm quan đục khoét của dân vẫn lưu ở trên đời một tiếng xấu : "Nhân bất khả vô sỉ"... (31)

    - Thưa quan thượng : "Hành kỷ hữu sỉ" (32). Người xưa đă nói về những điều tốt đẹp ấy là rất quư, rất hiếm. Cái quư hơn, hiếm có hơn là quan thượng đă làm được những việc tốt đẹp trên bước hoạn lộ của ḿnh. V́ vậy mà những học giả (người có kiến thức rộng) xứ Nghệ đă nhận ra được cái chân tâm (thật ḷng) của quan thượng mà quan đặt vào đôi câu đối tại cửa Tiền thành Vinh.

    Quan Đào Tấn hơi sửng sốt, nh́n cử nhân Nguyễn Sinh Sắc nâng ly rượu lên trước tầm mắt của hai người :

    - Quan cử là người thứ hai, sau quan Phó bảng Đặng Nguyên Cẩn, đă đọc ra cái điều sâu kín nhất trong đáy ḷng của "Kẻ ở ẩn tại triều” này... Xin cạn với nhau ly rượu về sự tri ân, tri tri diện, tri tâm (biết người, biết mặt, biết ḷng) và - nét buồn bỗng phủ lên gương mặt nhân từ của quan Đào Tấn - tôi xin báo một tin buồn với quan cử là : Quan ngự sử Phan Đ́nh Phùng đă... từ trần trên núi Quạt.

    - Ôi ! Anh cử Sắc đánh đổ ly rượu xuống chiếu - Quan ngự sử mới bốn mươi... chín tuổi !

    - Tin báo về triều - quan Đào Tấn giọng run run - là Nguyễn Thân đă cho binh lính t́m dược mộ quan ngự sử và đào lên, thiêu thi hài thành tro rồi nhồi với thuốc súng bắn xuống ḍng sông La!

    - Quan ngự sử và Nguyễn Thân đều được lịch sử lưu lại. Nhưng danh thơm thuộc về quan ngự sử, tiếng nhục của Nguyễn Thân dù rửa cạn nước sông Trà Khúc cũng không sạch.

    - Tôi vừa làm xong câu đối điếu quan ngự sử, xin đọc để quư quan b́nh cho. Giọng quan Đào Tấn lúc trầm lắng xót xa, lúc sôi nổi, giận dữ. Qua từng chữ từng câu trong đôi câu đối, anh Sắc hiểu được những suy tư cao cả, sâu kín trong tâm hồn ông. Anh càng cảm thông và kính phục quan Đào Tấn, một vị văn quan đương tại triều này. Anh xúc động lau nước mắt. Ngọn đèn tọa đăng run rẩy. Gió lạnh tràn qua mái tranh để lại cái rét buốt trong nhà người học tṛ xứ Nghệ.

    Côn mải nghe chuyện quên cả buồn ngủ. Lúc cha tiễn quan thượng thư Đào Tấn ra tận hàng đèn ngoài đường thành, Côn mới nằm xuống ôm lấy anh Khiêm cho ấm. Nhưng Côn c̣n hỏi với sang mẹ đang ngồi dệt vải :

    - Ông Phan Đ́nh Phùng chết là hết người đánh Tây, hả mệ?

    - Ngủ đi con. Ngày con khôn lớn con mới hiểu cái việc hệ trọng ấy.

    Côn nhắm mắt : h́nh ảnh chàng Thạch Sanh hiện đến. Côn lại mở mắt và vẫn cảm thấy ngứa ngáy trong lưỡi, nói :

    - Nghe mệ kể chuyện Thạch Sanh, ước chi con cũng có phép thần thông, có cây đàn thần th́ con cũng sẽ gẩy đàn cho giặc Tây ngủ hàng loạt, thu hết súng ống về, rồi nấu cho chúng một niêu cơm ăn măi không hết, trải chiếu hoa trên đường, tống tiễn chúng về Tây.

    Chị cử Sắc mỉm cười giục con :

    - Đă biểu ngủ đi. Cha mi vô kia rồi. Ngủ đi con, khuya lắm rồi.

    ----------------
    Chú thích:

    (28) Kinh đô của vua
    (29) Dưới thời nhà Nguyễn, con trai thuộc ḍng họ nhà vua gọi là mụ, con gái là mệ.
    (30) Đào Tấn sinh năm 1845, Nguyễn Sinh Sắc sinh năm 1863.
    (31) Người không biết xấu hổ th́ không c̣n là người nữa (lời Mạnh Tử)
    (32) Phải biết giữ ḿnh, làm việc bậy là xấu hổ (lời Mạnh Tử)

    Llévame lejos que cuando estoy contigo parece cerca.


    ...
    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

  8. #8
    FA - Everything will be okay!
    Category Moderator

    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    61.346
    Next Level: 0

    Phần 7






    Anh cử nhân Nguyễn Sinh Sắc lại rớt khoa thi Hội Mậu Tuất (1898). Một số bạn thân của anh Sắc đang làm quan tại triều Thành Thái khuyên anh thôi việc học, ra làm quan v́ đă ba mươi lăm, ba sáu tuổi mà các con đă đến tuổi ăn học, vợ thường bị đau yếu luôn, cuộc sống trong gia đ́nh càng ngày càng eo hẹp. Nhưng, anh cử Sắc vẫn không nao núng chí học của ḿnh.

    Quan thượng thư Bộ H́nh (33) Đào Tấn thông cảm cảnh nhà túng thiếu và rất trọng nể cái chí, cái tâm của cử nhân Nguyễn Sinh Sắc. Quan Đào Tấn đă bàn bạc với ông Nguyễn Viết Chuyên, một người dưới quyền của ông tại Bộ H́nh, nên đón cử nhân Nguyễn Sinh Sắc về dạy học trong nhà. Ông Chuyên người làng Dương Nổ, xă Phú Dương, huyện Phú Vang. Ông có người con trai sắp đi thi Hương đang cần mời thầy dạy thêm. Nay ông Chuyên được quan thượng thư Đào Tấn mời giúp "ông cử Nghệ" nổi tiếng hay chữ và là người "học tài thi phận" về ngồi dạy cho con học ngay trong nhà.

    Khi về Dương Nổ, anh cử Sắc cảm thấy việc ở trong gia đ́nh ông Chuyên, một nhà quan khá sang trọng, không hợp với cảnh của ḿnh có hai con theo ăn học. Anh cử Sắc nhận đến ở nhà ông Nguyễn Độ. Nhà ông Độ giàu, sẵn có ngôi nhà ba gian hai chái chỉ để thờ đằng họ nhà vợ. Ba cha con anh Sắc ở gọn trong ngôi nhà riêng biệt này. Gia đ́nh ông Độ nhận phần nuôi cơm cả ba cha con thầy. Những học tṛ khác th́ đóng tiền học hằng tháng cho thầy, tùy tâm của mọi người. Một số học tṛ cũ ở thành nội cũng theo thầy cử Sắc đến Dương Nổ trọ học. Công tôn nữ Huệ Minh không thể đi trọ học xa nhà được.

    Anh cử Sắc vừa phải đến Quốc tử giám dự các buổi b́nh văn, ôn bài để rồi dự thi Hội khoa Tân Sửu (1901), vừa phải hằng ngày dạy cho những học ḥ với nhiều lứa tuổi, nhiều tŕnh độ khác nhau. Riêng lớp học tṛ chuẩn bị đi thi Hương có tới sáu người. Loại học tṛ nhỏ khoảng bảy, tám em. Côn bé nhất mà cũng có khiếu học trội nhất. Mới lên tám tuổi, Côn đă có một trí nhớ khác thường.

    Hôm anh Sắc đi tiễn quan Đào Tấn về phụng dương mẹ ốm, anh ra bài cho lớp học tṛ nhỏ trong hai ngày phải học thuộc và viết trầm mười lăm trang, mỗi trang mười sáu ḍng của sách luận ngữ. Anh Sắc đi hôm trước, sáng hôm sau đă về. Lúc về đến xóm Dương Nổ Đông, anh thấy Côn đang ngồi câu cá dưới bến với mấy bạn học. Đám học tṛ nh́n thấy thầy định chạy trốn, nhưng không kịp. Côn th́ vẫn b́nh tĩnh đặt cần câu xuống, lấy bàn chân đằn lên, khoanh tay trước ngực, lễ phép.

    - Thưa cha... cha đă về... ạ.

    Anh cử Sắc vẫn chưa nguôi cơn bực tức với đám học tṛ đang giờ học bỏ đi câu cá. Anh hỏi, giọng nghiêm khắc :

    - Tṛ nào đầu têu cái việc đi câu cá giữa buổi học?

    Mấy gương mặt thơ ngây nh́n vào mắt nhau lúng túng, sợ hăi. Côn hơi run, nói :

    - Thưa.. thưa cha... con rủ... rủ bọn chúng nó đi ạ.

    - Côn! - Anh Sắc quắc mắt. - Con phải nói lại.

    - Dạ... thưa cha, con rủ các anh cùng đi chơi ạ.

    - Sao vừa rồi con lại vô lễ, gọi các bạn học của con là “chúng nó”?

    - Dạ, con sợ quá, nói líu lộn đó, thưa cha.

    Anh cử Sắc mỉm cười. Anh hỏi Nguyễn Sĩ Khuyến :

    - Hôm qua thầy đă dặn tṛ những ǵ lúc thầy ra đi?

    - Dạ, thưa thầy... thầy dặn con ở nhà coi việc học bài, viết tập của cả lớp, không được rủ nhau đi chơi xa ạ...

    - Tṛ nhớ lời ta dặn sao tṛ c̣n kéo nhau ra đây câu cá giờ này?

    - Thưa thầy... anh Côn (34) bảo đi câu cá cho thoáng mát trong đầu rồi về học sẽ chóng thuộc bài.

    Anh Sắc cố nén nụ cười, đôi môi tươi tắn hắn lên. Anh hỏi Diệp Văn Kỳ :

    - Tṛ Kỳ đă học thuộc bài chưa?

    - Bẩm thầy, con cũng chưa thục hết cả bài ạ.

    - Tṛ Khuyến thuộc bài rồi chứ?

    - Thưa thầy con cũng chưa thục hết ạ.

    - Côn đầu têu việc đi chơi th́...

    - Dạ... thưa cha, con đă thuộc cả mười lăm trang rồi ạ.

    Anh Sắc nh́n con vẻ nghi ngờ. Anh định bụng "phạt" tại chỗ để Côn đỡ chủ quan. Anh bỏ cái nón dứa ra khỏi đầu, giục đám học tṛ :

    - Cả các tṛ nữa, đi vô bóng mát để nghe Côn nó đọc bài coi.

    Côn nháy mắt với Kỳ. Biết ư bạn, Kỳ lui lại sau nhặt cái cần câu đem theo đến bóng cây cổ thụ. Anh cử Sắc ngồi xuống bên gốc cây vẫy theo hai cậu học tṛ ngồi xuống bên cạnh; Côn ngồi đối diện với cha. Anh Sắc dáng ung dung kiểm tra bài học của con :

    - Nào. Tṛ Côn bắt đầu đọc bài.

    Côn khoanh ṿng tay trước ngực đọc một mạch, không vấp một tiếng nào. Khuyến, Kỳ mắt tṛn xoe nh́n bạn Côn đầy thán phục. Anh cử Sắc cũng ngạc nhiên trước trí nhớ ở cái tuổi lên tám của con trai ḿnh. Anh bồi hồi liên tưởng đến cái đêm ngồi với bố vợ đốt hương trầm, uống rượu t́m chữ đặt tên cho con : Nguyễn Sinh Côn, tự Tất Thành...

    Côn đọc xong bài học. Anh cử Sắc đưa cho Côn cái que bằng chiếc đũa :

    - Con viết lên mặt đất bài học mà con vừa đọc.

    Côn lấy bàn tay phủi những cỏ rác trên vuông đất. Côn quỳ trệt chân trái xuống đất, chân phải co xổm. mặt hơi cúi nghiêng nghiêng, tay viết lia lịa, chữ hiện lên từng hàng đều đặn kín cả ô đất màu gan gà.

    Anh cử Sắc đặt bàn tay êm ái lên đầu con :

    - Viết từng ấy ḍng cũng đủ rồi con ạ.

    Côn để cái que bút xuống, nh́n cha, thở một hơi dài nhẹ nhơm. Anh Sắc với cặp mắt nhân từ nh́n con, nói :

    - Con đă thuộc bài, các bạn của con chưa thuộc mà con rủ bạn đi câu cá là phạm lỗi. Cái lỗi ấy là : con chỉ thấy phần ḿnh đă xong, không nghĩ đến phần người khác, như vậy là ích kỷ. Con đă rơ chưa?

    Côn hơi cúi xuống :

    - Dạ, con đă rơ, thưa cha.

    Mặt trời đă đứng bóng. Anh cử Sắc đi thủng thỉnh, ba cậu học tṛ bước theo sau trên con đường làng man mát bóng tre.

    Llévame lejos que cuando estoy contigo parece cerca.


    ...
    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

  9. #9
    FA - Everything will be okay!
    Category Moderator

    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    61.346
    Next Level: 0

    Phần 8




    8.1

    Chị Sắc sống thui thủi một ḿnh trong thành nội. Tuy chồng, con ở cách xa không đáng kể mà nỗi nhớ cứ trập trùng trong ḷng chị. H́nh ảnh bé Côn cứ cuộn tṛn trong nỗi nhớ của chị suốt ngày. Nhất là về đêm, nằm một ḿnh trong ba gian nhà trống vắng, chị Sắc càng thấy cái nỗi nhớ quẫy mạnh. Và từ nỗi nhớ gần kéo theo nỗi lo xa. Chị lo : Mẹ già như chuối chín cây. Ở ngoài quê nhà, không biết mẹ của ḿnh trong năm qua thiếu bàn tay săn sóc của vợ chồng ḿnh, mẹ sống ra sao? Em gái ḿnh liệu có làm tṛn việc phụng dưỡng mẹ sớm hôm như ḿnh đă dặn ḍ lúc ra đi? Bé Thanh vắng cha mẹ, nó có ngoan với bà, với d́ không? Nó c̣n chăm học chữ với thầy Quư như lúc cha mẹ c̣n ở nhà? Việc đồng áng nó có chịu thương chịu khó vớ d́ An không? Tay dệt, tay kim chỉ, chắc là nó có khéo hơn? Nó đă xấp xỉ tuổi mười sáu! Cái tuổi ấy ḿnh đă sinh con đầu ḷng! Ḿnh đă sớm bước vào đời làm vợ, làm mẹ! Ḿnh không có tuổi xuân bay nhảy như các bạn gái ở làng ḿnh! Ḿnh ru con nhiều hơn là được hát!

    Chị cử Sắc - Hoàng Thị Loan chẳng những không khỏa lấp được nỗi nhớ người thân mà ngày càng thấy nỗi nhớ rộng thêm, sâu thăm thẳm. Chị đành phải bàn với chồng đưa bé Côn trở về thành nội ở với chị.

    Cậu bé Nguyễn Sinh Côn lại sống bên cạnh mẹ trong những ngày tháng mẹ đau yếu sắp sinh em. Hằng ngày, Côn đi theo đám trẻ trong thành nội hái cành củi khô trên các hàng cây cao để mẹ có củi đun bếp; chị cử Sắc hốt hoảng :

    - Ấy chết! Con ơi! Ai bảo con đi mần cấy việc ni?

    - Con thấy mệ phải lượm từng chiếc lá khô quanh nhà làm cái đun nên con giúp mệ một tay mà.

    - Mệ đă dặn con không được trèo cây kia mà!

    - Các anh lớn hơn con trèo bẻ cành khô ném xuống. Con ở dưới lặt xếp lại thành đống. Rồi các anh ấy chia phần cho con, mệ ạ.

    - Nhưng mà... con phải học bài, phải tập viết cho chữ đẹp kẻo cha con về rầy mệ không nhắc con chăm chỉ việc sách đèn.

    Côn kéo dài giọng :

    - Ba a... ngày cha mới về ra bài một lần cho con học. Con chỉ nhẩm một buổi sáng là thuộc làu hết, mệ ạ - Côn lấy một cái ǵ đó trong túi áo ra khoe : - Mệ ơi, các anh ấy cho con con ve sầu. Thích lắm! - Côn nhấn ngón tay vào bụng con ve, tiếng "ve... ve..." cất lên.

    Chị Sắc cười, nhắc nhở :

    - Nước ********* của ve sầu hôi, ngứa đó con ạ.

    Vào bữa cơm, Côn thấy mẹ ăn ít quá, vẻ lo âu hiện lên trong ánh mắt của Côn :

    - Mệ ơi !

    - Chi rứa, con!

    - Mệ... mệ đừng ốm, mệ nhớ!

    - Mệ chỉ mệt trong người thôi. V́ mệ sắp sinh em cho các con mà.

    - Mệ sinh em gái, chớ sinh em trai cứng đầu khó bảo, mệ nhớ!

    - Răng con lại nói rứa?

    - Cha bảo vậy, mệ ạ!

    Chị Sắc nh́n con cười, một nụ cười chứa đựng ở bên trong nỗi lo âu... Côn đặt bát xuống mâm, cái mâm gỗ nứt đă tróc hết sơn, thủ thỉ :

    - Mệ cho con theo mệ Công tôn nữ Huệ Minh vô xem lễ Vạn Thọ (sinh nhật vua), mệ nhớ.

    Chị cử Sắc ngạc nhiên :

    - Trời đất! Con to gan rứa! Là hạng thứ dân, ai để cho con vô nơi sân rồng, điện ngọc.

    - Mệ Huệ Minh bảo trẻ nít chẳng ai để ư đâu mệ ạ, và mệ c̣n nhận con là em, cho con mượn quần áo hàng hoàng thân. Mệ đừng lo.

    - Nhưng con vô chỗ đó liệu có ích chi?

    - Dạo con ở quê nhà, con đă hứa với bà ngoại là lúc vô kinh đô con sẽ t́m cách nh́n bằng được mặt vua để rồi kể lại với bà khi con được về thăm bà...


    8.2

    Đến hết thiết triều các hoàng tử đi trước, tiếp sau là các chư công rồi tới các hoàng thân tiến vào điện Thái Hoà. Các quan văn, vơ và các tôn tước từ tam phẩm trở lên đứng ở Đơn Bệ, từ tứ phẩm trở xuống đứng tại Long Tŕ. Tất cả các quan đều đứng theo thứ tự phẩm hàm đă khắc trên bảng đá nhỏ, gọi là phẩm sơn. Buổi lễ thiết triều này, viên khâm sứ và đám quan binh Tây cũng có mặt chố hố giữa điện Thái Hoà. Dọc hai bên Long Tŕ có có các đội nhạc. Ngoài Ngọ Môn, các đơn vị tượng binh, kỵ binh được dàn thành đội h́nh hướng vào sân rồng.

    Từ trên lầu Ngũ Phụng của Ngọ Môn, vọi đồng nổi lên chín tiếng. Côn nghe cảm thấy rờn rợn, da nổi gai ốc. Nhưng hai mắt Côn giương rộng, không nhấp nháy, nh́n vua Thành Thái ngự trên kiệu rồng từ điện Cần Chánh, đi qua Đại Cung Môn vào điện Thái Ḥa. Vua c̣n rất trẻ, mặt hơi trái xoan, mũi thắng, mắt xếch, lông mày thanh, dài quá mắt, môi đỏ tươi, cằm có rănh sâu. Vua đội mũ cửu long, tay cầm hốt ngọc, áo gấm, cổ đeo chuỗi ngọc sa xuống trước ngực chiếc kim thánh h́nh bướm trên đó đúc bốn chữ nổi bằng vàng : "Đại Nam Hoàng Đế".

    Vua bước lên ngai vàng, ngồi hướng mặt về Nam. Nhă nhạc nổi lên. Các quan làm lễ lạy vua năm lạy. Một quan đại thần hai tay nâng trước mặt một tờ hạ biểu (35), đầu hơi cúi, bước đi lừ đừ, mũ cánh chuồn rung ra rung rinh, bộ râu ba cḥm màu cước phủ trắng ngực áo. Ông quỳ xuống trước ngai vàng, dâng lên vua tờ hạ biểu, các quan đều phủ phục xuống sân rồng và lạy tạ năm lạy nữa. Quan đại thần hạ biểu xong lui xuống. Quan thượng thư Bộ Lễ tiến lên tâu với vua : cuộc lễ Vạn Thọ đă xong. Vua nâng hốt ngọc lên phía trước quần thần và từ từ bước lên xa giá trở về nội cung... Sau buổi xem lễ Vạn Thọ về, Côn bị cảm, nóng dầu. Chị cử Sắc lo quá. Chị vừa sờ trán con vừa hỏi, vẻ hệ trọng :

    - Có lẽ con đă nh́n mặt vua mà không được vua ưng nên bị quở phạt, hở con?

    - Nỏ phải mô, mệ ạ. Con bị cảm là do con đứng bị gió hắt vô giữa mặt.

    Côn th́ thầm với mẹ :

    - Mệ ơi!

    - Chi rứa con?

    - Con thấy vua, người nhà vua, các quan trong triều mặt mũi đều b́nh thường như mọi người mà sao họ sướng gấp vạn lần, c̣n dân lại không được lấy một lần là bởi tại đâu, hả mệ?

    Chị cử Sắc tái mặt, bịt bàn tay lên miệng con :

    - Ôi cha! Con c̣n bé mà... mà... Đă bảo ở gần cung vua con phải giữ mồm giữ miệng...

    Mùa hè năm cuối cùng của thế kỷ mười chín.

    Một hôm Côn đang cặm cụi hon từng đống lá dưới hàng cây th́ một bà hàng xóm chạy ra, gọi :

    - Côn ơi! Mẹ cháu đau bụng chuyển sinh rồi.

    Côn hót vội những đông lá vào sọt, na bên lưng, chạy vội về nhà. Côn ném cái sọt lá vào một góc sân, chạy vào buồng với mẹ. Chị Sắc vừa rên vừa nói :

    - Con có dám đi sang Dương Nổ gọi cha về ngay không?

    - Con đi gọi bà mụ (bà đỡ) cho mệ đă.

    - Mệ đă nhờ người đi mời bà mụ rồi.

    Côn vội khoác cái áo năm thân, vừa đi vừa cài khuy. Nắng chiều xiêu xiêu trên thành nội. Bóng Côn ngă dài trên ngơ vắng ngập lá vàng rơi. Ngay tối hôm đó, anh cử Sắc cùng con trai từ Dương Nổ về thành nội. Chị Sắc đă sinh con trai. Anh đặt ngay tên cho đứa con út là Nguyễn Sinh Nhuận. Anh giải thích với vợ :

    - Đă gần mười năm, nay nhà (ḿnh) mới sinh thêm một lần nữa. V́ vậy tôi đặt tên cho là Nhuận. Nhuận nghĩa là thêm. Ví như "năm nhuận" là năm có dôi ra một tháng.

    - Ḿnh không đặt tên chữ cho con à? - Chị Sắc hỏi chồng. - Tự của nó là Tất Danh. Nhà nhớ cho con nhá.

    Chị Sắc nhẩm nhớ trong trí : Nguyễn Thị Thanh, tự Bạnh Liên; Nguyễn Sinh Khiêm, tự Tất Đạt; Nguyễn Sinh Côn, tự Tất Thành; Nguyễn Sinh Nhuận, tự Tất Danh... Chị Sắc muốn được tṛ chuyện với chồng nhiều, nhưng trong người mệt luỗi như muốn đứt hơi! Anh cử Sắc quạt muỗi, đắp chăn vải mỏng cho hai anh em bé Khiêm, Côn ngủ. Anh khơi to ngọn đèn, giở bộ sách thuốc ra đọc. Anh kê từng vị thuốc ra giấy và nỗi lo lắng về t́nh trạng sức khỏe của vợ dấy lên trong ḷng anh. Anh trăn trở măi và đành phải cho vợ biết ngay việc anh sắp phải đi xa :

    - Nhà vừa ở cữ, lại không được khỏe. Tôi thấy khó xử với lệnh trên truyền xuống giữa lúc cảnh nhà quẫn bức này.

    - Có chuyện chi mà hệ trọng lắm vậy nhà?

    - Quan tế tửu mới vừa chuyển lệnh của quan thượng thư Bộ Học chọn cử tôi đi Thanh Hóa coi thi Hương.

    Chị cử Sắc thở dài năo nuột :

    - Cổ nhân đă dạy: "Sứ trời sớm giục đường mây, phép công là trọng niềm tây xá nào" (36). Nhà cứ yên tâm đi làm việc lớn mà triều đ́nh đă sắp đặt. Việc nhà, xin nhà đừng bận tâm lo nghĩ nhiều mà hao tổn tâm thần, nhăng sao phần đèn sách.

    - Thi cử là công việc tuyển chọn người học vấn chân tài. Tôi không thể từ chối được. Hiềm một nỗi... nhà... nhà đang bệnh... Bệnh sản sau ngày sinh nở là độc lắm. Tôi vắng nhà, việc lo liệu thuốc thang chẳng có ai. Bé Khiêm nó cũng sẽ đi với tôi. Bé Côn c̣n trẻ nít, nó xoay xở sao nổi cái công việc mà người lớn cũng c̣n thấy bất lực kia mà!

    - Nhà cho con đi hầu tráp, tôi yên cái bụng. Mệ con tôi ở nhà sẽ tự lo liệu được mọi việc. Tôi lo cho cha con đi xa gặp phải lúc nhà không c̣n tiền, v́ gần một năm nay, tôi đau yếu, thai nghén, không dệt được là bao...

    - Tôi đi đă có tiền cấp phí của Bộ Học.

    Hai vợ chồng anh cử Sắc bàn bạc việc nhà trong mấy hôm liền. Hơn một tháng sau, cha con anh cử Sắc lên đường đi chấm thi Hương ở Thanh Hoá.

    Bệnh hậu sản của chị cử Sắc ngày càng nặng. Sức khỏe của chị suy sụp rất nhanh từ sau ngày anh vắng nhà.

    Với cái tuổi lên mười, Côn đă phải nấu cháo, sắc thuốc, chăm sóc bệnh t́nh của mẹ. Hằng ngày, Côn c̣n phải bế em sang hàng xóm xin những bà mẹ đang nuôi con thơ cho em được bú nhờ. Các bạn nhỏ trong thành nội cũng thường bế em giúp Côn đi xin sữa và gọi bằng cái tên thân mật : em Xin. Từ đó mọi người quên hẳn cái tên Nguyễn Sinh Nhuận.

    Thấm thoắt đă hết năm 1900 - năm cuối cùng của thế kỷ mười chín. Côn sốt ruột hỏi mẹ :

    - Răng cha và anh Khiêm đi hoài, đi măi, chẳng thấy về hả mệ?

    - Mệ cũng thấy bồn chồn. Cha con biểu đi chừng bốn năm tháng. Nay đă gần Tết rồi.

    - Liệu cha và anh Khiêm có kịp về Tết ni không mệ nhể?

    - Chắc là kịp. Nhưng mệ ngợ là cha con sẽ ghé về quê thăm bà. - Ngày Tết mà mệ chưa khỏi bệnh, cha, anh Khiêm vẫn chưa về, nhà ta mất Tết, con lại chẳng được ngồi canh nồi bánh tét, không được đốt pháo đón giao thừa!

    - Mệ sẽ cho con tiền mua bánh pháo dài, con đốt bằng thích.

    - Con thích có bánh tét, bánh chưng hơn, mệ ạ. C̣n pháo th́ để anh Khiêm đốt cho vui nhà trong ngày Tết chứ con không ưa tiếng nổ inh tai, nhức óc mô.

    Đêm tháng chạp. Gió hú dài trên đường thành. Côn đặt tay lên ngực mẹ, hỏi :

    - Mệ ơi ! Mệ có làm sao không?

    - Mệ không sao đâu. Con ngủ đi, trằn trọc măi vậy. Chị Sắc thở dà i: - Con săn sóc mẹ ốm, lại chăm nom em nữa... e chừng con sụp mất!

    - Mệ đừng lo. Con vững lắm. C̣n có các đứa bạn con, chúng nó tốt bụng với con lắm.

    - Ừ. Con có những đứa bạn rất thảo miếng ăn, đối với con cứ như anh chị em trong một nhà ấy.

    - Con bận mấy th́ bận, con cũng giúp bạn con cách bồi b́a sách, đóng quyển học (vở học). Các bạn con cứ biểu con có hoa tay, mệ ạ.

    - Phải rồi. Bạn đối xử tốt với ḿnh th́ ḿnh càng phải ăn ở tốt với bạn. - Chị Sắc sợ con làm quá sức, dặn: - Từ mai, con đừng nấu nướng chi mà xách vịm (37) ra hàng cơm gánh hoặc con đến trại lính mua một suất cơm về ăn và nhá cho em. Con cần có th́ giờ nghỉ, chơi nhởi con ạ.

    Ngày 22 tháng chạp năm Canh Tư (10-2-1901), kinh thành Huế nhuộm màu ảm đạm. Nền trời ch́. Gió hiu hiu thổi. Người đi chợ Tết đông như hội. Dưới sông, thuyền hàng, đ̣ dọc, đ̣ ngang đi về như mắc cửi. Nhiều người đă sắm hoa Tết, vác những cành mai, bưng chậu thủy tiên, vẻ hớn hở. Côn xách một vịm cơm trong cái gióng mây ba tao (38) vừa đi vừa theo dơi con chim sâu mới ra ràng đang nhảy nhót trên hàng cây hoa đại sau cửa Đông Ba. Côn định đặt vịm cơm xuống băi cỏ đuổi bắt con chim con. Bỗng tiếng Công tôn nữ Huệ Minh gọi yếu ớt : “Côn... ơi! Mệệ... Côn... chết...... Côn... ơi...!"

    Côn ném vịm cơm xuống. Cái vịm sành vỡ làm đôi, cơm tưng tóe trên vạt cỏ úa vàng... Côn chạy một mạch về nhà, miệng ra lớn : M... ệệ... Mệệ... ô... ii!

    Một ông từ phía đại nội chạy tới níu lấy Côn và bịt miệng, không cho Côn khóc la :

    - Náu lặng! Náu lặng ngay không th́ mất đầu.. . Đây là nơi gần với cung vua, gần ṭa sở các quan làm việc, không ai được la to, mi đă rơ chưa?

    Huệ Minh, Kỳ và đám trẻ thành nội cũng chạy theo Côn về nhà. Côn mím chặt môi không cho bật ra tiếng khóc. Càng chạy nhanh càng dồn nén nỗi đau tắc nghẹn, nước mắt trào giàn giụa, đất trời quay tít trước mặt. Côn lại ̣a lên khóc khi thấy mẹ đă thơng một cánh tay xuống bên thành giường, một tay vẫn ôm ṿng qua cổ bé Xin và bé Xin không biết mẹ chết cứ ngậm vú mẹ nhay nhay. Côn phủ phục xuống bên mẹ gọi : Mệ! Mệ! Mệ! M... ệệ ô...ii! Mẹ bỏ chúng con... sao... mệ... ôi! Cha...chưa... kịp... về... mệ... ơi!

    Huệ Minh chạy vào bế bé Xin ra khỏi ṿng tay thi hài chị cử Sắc. Bé Xin giăy nảy, chuồi chuồi chân, khóc thét... Ngoài sân, hàng xóm đă đổ tới khá đông và có tiếng nhắc nhở :

    - Khóc khẽ thôi. Luật lệ cấm mọi tiếng động mạnh đó, nghe.

    Nhiều tiếng tặc lưỡi và xuưt xoa :

    - Tội nghiệp bà cử! Cha con ông cứ vẫn chưa về... Tội thân anh em bé Côn! Mệ chết mà chẳng có một ai thân thích ở gần!

    - Giữa lúc năm hết, Tết đến mà mệ chết, cha vắng nhà, ở giữa đất khách quê người này, liệu anh em bé Côn sẽ sống ra sao đây?

    - Vậy ra... ông bà cử Nghệ không có ai là người ruột thịt ở miệt ni à?

    - Chẳng có một người nào cả.

    - Vậy th́ chị em xa, ta là láng giềng gần, mỗi người một tay để đưa bà Cử về nơi an nghỉ cuối cùng.

    V́ luật của triều đ́nh, những người chết trong thành nội không được phép làm đám ma ở đó, phải chuyển áo quan ra bên ngoài để hành lễ.

    Kinh thành Huế nghiêng nghiêng dưới gầm trời u ám cuối năm. Chiếc quan tài bà cử Sắc - Hoàng Thị Loan - phủ chiếc chiếu hoa "song thọ", trên nắp áo quan đặt đĩa đèn dầu cháy leo lét, vật vờ. Sáu người đàn ông dàn ra hai hàng khiêng tay chiếc áo quan đi từ từ ra phía cửa hậu, tuần qua Đông Thành Thủy Quan. Nguyễn Sinh Côn, đầu đội khấu rơm, mặc áo đại tang, chống gậy, chân đất, đi sau quan tài mẹ. Huệ Minh bế bé Xin đi sóng bước với Côn. Một đoàn bạn nhỏ thành nội, tay cầm hoa huệ, hoa tam vị, cành đại... mặt em nào cũng buồn rượi đi bên Côn. Những người hàng xóm đi đưa đám bà cử Sắc phải đi phía cửa Đông Ba ra sông Hương đợi thuyền chở quan tài từ Đông Thành Thủy Quan tới. Chiếc quan tài đặt vào ḷng con đ̣. Côn gục đầu xuống nắp áo quan mẹ. Ở đầu áo quan, sáp nến chảy dài và tụ lại thành cục, thành ḥn dưới chân cây nến. Ḍng khói hương cuồn cuộn. Bé Xin vừa mút tay vừa gào mẹ... Côn vừa khóc nấc dồn dồn, toàn thân rưng lên. Các bạn nhỏ thành nội xúm xít bên Côn.

    Con đ̣ chở áo quan tách khỏi bến, những chiếc đ̣ chở người đưa đám nối theo sau.

    Ngôi mộ bà cử Sắc đă được vun cao. Mọi người thành kính đặt một nắm đất cuối cùng lên mộ rồi lần lượt ra về. Người nào cũng ngoảnh lại, cám cảnh nh́n hai anh em bé Côn...

    Băi tha ma Nam Giao hoang vắng. Bóng chiều ôm tṛn ngôi mộ màu đất mới nghi ngút khói hương. Côn phủ phục xuống lạy tạ trước tấm bia gỗ trên đầu ngôi mộ mang hàng chữ đen: Hoàng Thị Loan sinh năm Mậu Th́n (1868) tại làng Hoàng Trù, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An, từ trần ngày 22 tháng Chạp năm Canh Tư (10-2-1901) tại kinh đô Huế.

    Chôn cất mẹ xong, Côn lại bế em về với ngôi nhà hoang vắng trong thành nội. Bà con hàng xóm, các nhà có con học ông cử Sắc đều muốn đón anh em Côn về ở với gia đ́nh họ. Nhưng Côn không đến ở nhà ai. Em c̣n nhỏ, đang lâm bệnh ỉ-a chảy, lại là ngày Tết, nhà nào cũng có cỗ bàn sang trọng, khách khứa đông vui người ta sẽ khó chịu về sự có mặt của hai đứa trẻ mồ côi mẹ này! Những đêm đầu tiên vắng mẹ, Côn thấy rờn rợn trong đầu. Bé Xin nhớ hơi mẹ, thèm sữa gào khóc; không dỗ được em nín, khổ quá, Côn khóc luôn với em. Tiếng "eng éc" của con chim cú lợn kêu từ đêm trước lại hiện đến trong Côn với cảm giác như bị cái cột nứa cứa vào bàn tay. Côn cất tiếng ru :

    À ơi. Bồng bồng bế bế bồng bồng...
    C̣ con theo mẹ sang sông đắm đ̣...
    À ơi đắm đ̣ ướt hết thân c̣...
    C̣ con c̣ mẹ ḷ ḍ sang sông...
    Bồng... bồng... bế... bế... ớ... bồng... ơ... bồng...


    Cái cảm giác sợ hăi đă bay biến th́ nỗi cô đơn lại bao trùm lấy tâm trí Côn lúc cả kinh thành bay lên theo tiếng pháo giao thừa. Côn phải dỗ em bằng kẹo, bánh của các bạn đem đến cho. Tuy em Xin chưa biết nói, Côn vẫn tṛ chuyện với em như nó đă tiếp nhận được mọi điều của anh nói ra :

    - Em ăn cái bánh ni ngon hơn mọi thứ bánh khác, đây là lộc của đức Hoàng phi Thành Thái cho anh em ḿnh đó. Em có biết không, mẹ Công tôn nữ Huệ Minh thưa với đức Hoàng phi về t́nh cảnh của anh em ḿnh, cha ḿnh là cử nhân, là giám sinh đang chấm thi ngoài tỉnh Thanh...

    Mặc anh dỗ dành, nựng chiều, bé Xin vẫn không ăn bánh, không đ̣i bú và cả tiếng khóc cũng đang đuối dần! Côn bế em vào ḷng, tựa lưng bên bàn thờ mẹ nh́n đau đáu trong đêm đen quạnh quẽ mịt mù...

    Llévame lejos que cuando estoy contigo parece cerca.


    ...
    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

  10. #10
    FA - Everything will be okay!
    Category Moderator

    Ngày tham gia
    Aug 2009
    Bài viết
    61.346
    Next Level: 0

    Phần 9




    9.1

    Nguyễn Sinh Sắc về tới Thành Nội, bàng hoàng trước cảnh vợ đă từ trần, đứa con út đang hấp hối trên tay bé Côn.

    Ông buông thơng hai tay, mắt mở to trống rỗng khi đôi mắt thơ ngây của bé Xin như hai dấu chấm đen ánh lên lần cuối cùng rồi lặn vào vĩnh viễn.

    Chôn cất đứa con út xong, ông cử Sắc đưa hai con trai trở về Nghệ. Trên đường về, tâm trạng ông chẳng khác nào một danh tướng thất trận. Ông sẽ nói ǵ, nói thế nào khi về gặp lại người mẹ vợ cao cả đă hai lần bán ruộng gom tiền cho ông đi thi, vào kinh đô học; người đă nén t́nh cảm để con gái đầu ḷng đi nuôi chồng ăn học. Nay trở về : vợ, đứa con út nằm lại vĩnh viễn bên bờ sông Hương...Suốt dọc đường thiên lư, hàng tháng trời, ông gặp lại những kỷ niệm của vợ chồng ông cùng đi vào lần trước. Và h́nh ảnh vợ quảy gánh trẩy kinh giúp chồng ăn học như dăy núi dài theo bước chân ông về thấu quê nhà.

    Được tin cha con ông cử nhân Nguyễn Sinh sắc đă về, bà con họ hàng, làng xóm lũ lượt đến chia buồn.

    Cụ đồ lưng đă bắt đầu c̣ng xuống, ôm chầm ấy hai đứa cháu ngoại mồ côi mẹ, nh́n chàng rể về một ḿnh, cụ kêu khóc như xé trời, thủng đất! Cô An thấy vắng chị chạy vào buồng ôm mặt nức nở. Thanh không thấy mẹ về, nằm lăn ra đất, ngất xỉu. Bà Thuyết và mấy người nữa bế vội cháu Thanh vào nhà. Tiếng khóc trùm lên lũy tre làng. Bàn thờ bà Hoàng Thị Loan kê ở gian giữa của ngôi nhà cũ. Ông cử Sắc kính cẩn đặt lên bàn thờ tấm bài vị của vợ mà ông mang từ Huế.về. Mọi người thân lần lượt vào thắp hương và lễ vái...

    Phan Bội Châu và Vương Thúc Quư phúng viếng một đôi câu đối bằng vóc trắng, mang ḍng chữ.

    Hai chục năm đầu gối tay kề (39), nghĩa vợ t́nh chồng gương sáng măi;
    Mấy bạn hiền bút nghiên khuya sớm, sân Tŕnh cửa Khổng(40) bảng vàng tươi.


    Trong dịp này quan Đào Tấn cũng cho lính hầu từ thành Vinh (41) mang lễ lên làng Chùa phúng viếng bà vợ ông cử Sắc.

    Lập xong bàn thờ và làm lễ phát tang vợ cho bên nội bên ngoại xong, Nguyễn Sinh Sắc tính việc trở lại kinh đô Huế dự thi Hội, khoa Tân Sửu (1901), ḷng ông đầy trở trăn : Ông vào kinh đô thi Hội khoa Ất Mùi (1895) tốn kém nhiều, mẹ vợ phải bán ruộng. Nhưng khoa thi ấy ông không đỗ ông lại đưa vợ và hai con trai vào Huế. Mẹ vợ lại bán ruộng lần nữa mới có đủ tiền cho ông trẩy kinh với bao hy vọng chàng rể trở về có "ân tứ vinh quy" bơ cái công nuôi chàng rể sách đèn.

    Nào ngờ, vợ ông từ trần giữa lúc khoa thi sắp mở! Ông lại phải "gà trống nuôi con" về làng dựa vào mẹ vợ đă chồn lưng mỏi gối.

    Mẹ vợ lại phải ẵm cháu ngoại thay con gái, và bán ruộng lần thứ ba, để có đủ tiền thuê xe phu trạm cho chàng rể kịp vào kinh đô ứng thí. Ông Sắc lên đường vừa chân ướt chân ráo đă có người đến nhà cụ đồ An thủ thỉ :

    - Cụ không có con trai. Con gái cụ đă qua đời, chàng rể th́ trẻ chưa qua già chưa đến ắt c̣n phải tính chuyện bà kế, bà thiếp chứ. Vậy mà cụ không để ruộng làm của "lập tự”, làm ruộng giỗ lại đem bán cho chàng rể đi học, đi thi những ba lần? Khoa thi này ông cử Sắc có chiếm được bảng vàng, vinh quy bái tổ th́ họ Nguyễn làng Sen được tiếng thơm chứ cụ và họ Hoàng làng Chùa này được cái chi hả cụ?

    Cụ đồ An cười. Giọng cụ trở nên bồi hồi :

    - Cha tôi một đời đèn sách, bốn lần thi Hương cả bốn lần đều chỉ đỗ bốn cái tú tài. Dân làng gọi là cụ "tú đụp” Kẻ Sía. Tôi cũng được năm ba chữ cha dạy cho, lúc lấy chồng th́ lại giúp chồng đèn sách, hai lần thi Hương ông nhà tôi cũng chỉ là "tú kép". Nay được chàng rể đang có chí cần công khổ học như cha tôi, như chồng tôi lẽ nào tôi không hết ḷng? Cha tôi thường dạy : Ruộng không đẻ ra chữ được mà chữ sẽ đẻ ra ruộng. Có ruộng cả ao liền để lại cho con mà con dốt nát th́ nó sẽ nướng vào canh bạc là trắng tay. Tôi bán ruộng cho chàng rể có chữ lẽ nào người có chữ lại ăn ở vô nghĩa, bạc t́nh?

    Cụ đồ An - Nguyễn Thị Kép đă sáu tư sáu lăm tuổi. Răng cụ c̣n nguyên. Tóc chưa có mấy sợi bạc. Nhưng, cái chết của người con gái đầu ḷng đă làm biến đổi h́nh hài của cụ. Nhất là hai con mắt khóc nhiều quá, màng kéo lên như làn khói mỏng. Đêm nào cụ cũng phải ôm chặt lấy cháu Côn như đang được ôm con gái thuở c̣n bé. Để bà khuây khỏa phần nào, Côn ṿi bà kể chuyện cổ tích hoặc kể lại cho bà nghe việc Côn xem sân rồng, cung điện, ngai vàng... Đặc biệt là Côn được nh́n thấy mặt vua Thành Thái mà mắt Côn không hề có làm sao cả. Rồi Côn sực nhớ h́nh ảnh ông già mù, Côn hỏi bà :

    - Ông Xẩm đi hát dạo ở đâu xa mà từ hôm cháu về nỏ gặp ông ấy, hả bà?

    - Ông ấy chết đă hai năm rồi, cháu ạ.

    Côn thở dài:

    - Ông Xẩm mắt mù, nhưng chuyện chi ông ấy cũng biết. Vắng ông Xẩm, làng ta cũng giảm phần vui, bà nhể.

    - Trước lúc trút hơi thở cuối cùng, ông Xẩm đă nhắc nhớ tên từng người trong làng ḿnh. Ông ấy cứ nói cảm ơn, cảm ơn cha mẹ cháu có tới mấy lần.

    Bỗng từ bên hàng xóm có những tiếng gào khóc, than văn. Côn hỏi bà :

    - Nhà ai có người chết mà họ khóc giữa giờ này, hở bà?

    - Người ta khóc chồng, khóc con bị bắt đi phu làm đường Cửa Rào - Trấn Ninh đó cháu ạ.

    Côn ôm chặt lưng bà. Tiếng khóc bên hàng xóm xói vào ḷng, Côn không tài nào ngủ được. Côn thủ thỉ :

    - Cháu đi từ kinh đô Huế về, trên đường, người làm phu mở đường đông như kiến ấy bà ạ. Cháu thấy người Tây họ cưỡi ngựa, có cả lính người Nam đi theo. Ông Tây có cái roi gân ḅ dài quất xuống đầu, xuống lưng những người gầy g̣ áo quần rách mướp, không giơ nổi cái cuốc!

    - Cái kiếp dân ḿnh khổ hết đường vậy đó, cháu ơi! - Cụ đồ An vuốt nhẹ tóc cháu, giọng xúc động - Mười người đi phu chỉ thấy về lại được ba, bốn.

    Cụ dằn từng tiếng:

    Ông quan áp trước
    Cậu lính áp sau
    Roi quất vùi đầu
    Thân phu đài coi rẻ
    Áo mặc c̣n giẻ
    Nón đội c̣n mê
    Măn hạn trở về
    Ba phần c̣n một...

    Lặng đi một lúc, cụ đồ đặt ngổn tay lên mi mắt cháu nhẹ nhàng nói :

    - Khuya lắm rồi, ngủ đi cháu, kẻo mai cháu lại ngủ gật trong lớp học, thầy Quư sẽ phạt đấy.

    - Bà ơi! - Côn nói, vẻ thận trọng. - Dạo ni cháu thấy chú giải San (Phan Bội Châu vừa đậu giải nguyên) thường dẫn nhiều bạn đến chơi nhà thầy Vương Thúc Quư. Cháu thấy các ông bạn lạ ấy cũng nhắc đến tên cha cháu. Cháu nhớ được tên của mấy ông như : Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Tôn Gia Nhuận, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân... H́nh như.. các ông bàn chuyện đánh Tây, bà ạ.

    - Ấy! Phải kín miệng cháu ơi! Việc hệ trọng của những người tai mắt, cháu đừng có bép xép mà sinh họa lớn, nghe cháu!

    Côn nằm im một lát, lại hỏi :

    - Người tai mắt là người nào, hở bà?

    - Người tai mắt là người có nhiều chữ, có chí lớn, lo nghĩ những công việc ích nước lợi dân, khác hẳn với những người thường. Chẳng hạn, các ông nghè, ông cử mà cháu vừa nói tên đó...

    - Vậy cha cháu có được gọi là người tai mắt không bà?
    thầy Vương Thúc Quư. Cháu thấy các ông bạn lạ ấy cũng nhắc đến tên cha cháu. Cháu nhớ được tên của mấy ông như : Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân, Đặng Nguyên Cẩn, Đặng Thúc Hứa, Tôn Gia Nhuận, Đặng Văn Bá, Lê Văn Huân... H́nh như.. các ông bàn chuyện đánh Tây, bà ạ.

    - Ấy! Phải kín miệng cháu ơi! Việc hệ trọng của những người tai mắt, cháu đừng có bép xép mà sinh họa lớn, nghe cháu!

    Côn nằm im một lát, lại hỏi :

    - Người tai mắt là người nào, hở bà?

    - Người tai mắt là người có nhiều chữ, có chí lớn, lo nghĩ những công việc ích nước lợi dân, khác hẳn với những người thường. Chẳng hạn, các ông nghè, ông cử mà cháu vừa nói tên đó...

    - Vậy cha cháu có được gọi là người tai mắt không bà?

    - Phải. Cha cháu là người tai mắt.

    - Cha cháu đi vô kinh thi Hội đến nay... lâu rồi mà nỏ có tin chi về, bà nhể.

    - Đừng nhắc mà cha cháu sốt ruột, dễ bị vấp ngă trong lúc đi lại, cháu ạ. - Cụ đồ lại giục : - Ngủ đi cháu!

    Côn nhắm mắt. Hương sen từ ngoài ao làng thoang thoảng quanh buồng ngủ. Trong phút chập chờn Côn thấy loáng thoáng búp sen xanh ẩn hiện trong đầm sen bát ngát giữa đồng quê. Bên tai Côn, tiếng chim đêm hè văng vẳng. Và có cả giọng ca của ông Xẩm tưởng hồi trong giấc mơ :

    Nước Nam ta sao lại có Tây?
    Thần dân quyết đánh, vua rày không nghe...

    9.2

    Nghe tiếng chim khách, từ trong lớp học Côn nh́n ra vườn. Những ngọn cây cúi xuống nhô lên, vật và vật vờ. Từng chiếc lá vàng chao rơi lấp loáng. Cả đám học tṛ đang cặm cụi tập làm câu đối bỗng giật ḿnh nh́n ra vườn v́ tiếng thốt bất ngờ của Côn :

    - Ồ... ồ... Những trái tim... những trái tim vàng bay!

    Thầy đồ ngồi bên án thư nh́n Côn, nghiêm giọng :

    - Tṛ Côn đứng dậy!

    Côn khoanh tay trước ngực đứng nghiêm. Gió ngoài vườn luồn qua cửa sổ, lật nhẹ tà áo dài của Côn lên phía trước, cái khăn vành rế ôm choàng quanh đầu, trông dáng h́nh Côn như búp nấm. Hai con mắt Côn long lanh nh́n thầy. Giọng thầy đồ vẫn nghiêm :

    - Đang trong giờ làm văn tập, tại san tṛ dám nói nhảm?

    - Thưa thầy, con thấy những lá vàng rụng xuống như những trái tim bay lượn ạ.

    Thầy đồ đưa mắt ra vườn, mỉm cười. Ông hỏi Côn :

    - Tṛ đă làm xong câu đối chưa?

    - Thưa thầy, con làm xong rồi ạ.

    - Tṛ đọc to lên! Cả lớp chao mắt về Côn, chỉ có Nguyễn Sinh Khiêm là nh́n xuống trang sách trước mặt, nhưng tai vẫn ghé về phía Côn. Côn đọc rơ từng tiếng :

    Chung Sơn vượng khí thành kiên cố,
    Trắc Lĩnh đa vân thị lăo niên. (42)


    Hơn hai chục cặp mắt học tṛ đều lộ vẻ ngạc nhiên, khâm phục Nguyễn Sinh Côn. Thầy đồ đứng dậy, chống hai bàn tay xuống án thư, suy tưởng. Đôi mắt nh́n về phía Nguyễn Sinh Côn, ông hỏi :

    - Có tṛ mô đă làm xong nữa không?

    Cả lớp ngồi im lặng. Thầy đồ giọng ấm áp.

    - Tṛ Côn ngồi xuống kẻo mỏi chân. Các tṛ ơi! Thầy dạy học từ ngày thầy mới có dúm tóc bằng quả thị, nay đă có những sợi bạc, nhiều người học tṛ đỗ đạt cao hơn thầy, đă làm tới quan huyện, quan phủ... Nhưng, thầy chưa hề ngạc nhiên với một học tṛ nào có thiên tư như tṛ Nguyễn Sinh Côn! Thầy biết cái lẽ : Khen người trẻ tuổi đang ở trước mặt ḿnh là có hại. Nhưng với tṛ Côn th́ thầy lại tự cho phép ḿnh làm trái với cái điều ấy. Bởi lẽ, cái thần sáng của tṛ Côn rất khác thường. Vốn chữ của tṛ Côn chưa có nhiều, nhưng cái tỏa sáng trong trí lự lại vượt ra khỏi lứa tuổi ấy. Như các tṛ đă rơ, thầy ra đầu đề bài tập làm câu đối : vế trên có "Chung Sơn" vế dưới có "Trắc Lĩnh". Chỉ có vậy mà Côn đă tạo nên một bức tranh hùng vĩ trong hai vế câu đối mà ta tưởng là của một thi nhân chân cảm (43). - thầy đồ chùng giọng - quả là "thi trung hữu hoạ”. (44)

    Chợt ông sửng sốt nh́n ra phía đường làng. Học tṛ nh́n theo thầy : một tốp lính và có cả tiếng nhạc ngựa đang phi về làng. Cả lớp học lắng xuống. Tiếng nhạc ngựa xa dần, vào sâu trong xóm. Thầy đồ nhắc nhở :

    - Các tṛ chú ư. Nghe ta giảng tiếp...

    Tiếng giảng bài của thầy đồ đều đều giữa ban trưa thoang thoảng hương. Từ nhà bên đă rộn lên những tiếng nói, tiếng cười hể hả... Một ông lăo chống gậy trúc đi từ ngoài ngơ vào. Thầy tṛ rời khỏi án thư, đi ra cửa. Các học tṛ nh́n theo dáng đi khoan thai của ông lăo và thầy học của ḿnh. Ông lăo giọng trang nghiêm:

    - Xin kính báo với thầy: quê ta đă có hồng phúc. Ông Nguyễn Sinh Sắc đă đậu Hội thí, Phó bảng.

    - Quan Phó bảng! - Thầy đồ mắt nh́n đằm thắm, nói giọng xúc động: - Quan cử Sắc của chúng ta đă... Đất quê ta đă có Phó bảng phát khoa!

    - Quan trên đă sức giấy về... Cả huyện sẽ đón quan "vinh quy bái tổ".

    Thầy đồ nói với học tṛ :

    - Hôm nay thầy cho các tṛ nghỉ sớm...

    Đám học tṛ tay xách ống bút, tay cắp cặp sách tỏa ra các ngơ đường làng. Hai anh em Côn lâng lâng nh́n những lá vàng bay xoay xoay trong nắng xế chiều.

    Côn chạy lên trước anh Khiêm. Côn ôm cả sách, cả ống bút chạy ùa thẳng vào nhà t́m bà, báo tin mừng. Không thấy bà ở trong nhà trên, Côn xuống nhà ngang, sang nhà thờ mẹ, vẫn không thấy bà. Côn đứng thừ ra trước bài vị thờ mẹ, hai hàng nước mắt trườn chầm chậm trên má.

    Cụ đồ An từ ngoài ao sen đi vào thấy cháu đàng thẫn thờ bên bàn thờ mẹ, cụ nén xúc động dừng bước bên gốc cây thị. Côn rời khỏi bàn thờ mẹ, thấy bà, liền lau nước mắt bằng ống tay áo, chạy ra với bà. Từ ngoài ngơ, ông tiên chỉ của làng dẫn đầu một đoàn người, bưng theo cơi trầu, chai rượu. Cụ đồ hơi bối rối chưa biết có chuyện ǵ. Mọi người chào cụ rối rít. Cụ mời họ vào nhà. ông tiên chỉ đặt trầu rượu lên án thư, giọng ông hơi trầm :

    - Thưa cụ chúng tôi được hội đồng lư hương ủy thác tới đây kính báo với cụ và thân quyến việc quan Nguyễn Sinh Sắc đă đem vinh hiển về cho nhà, vinh hoa cho làng xóm, quan là người đầu tiên ở đất này chiếm được bảng Hội thí...

    Cụ đồ nước mắt lưng tṛng, hai bàn tay nhăn nheo bấu chặt lấy thành tràng kỷ mà chân vẫn không hết run. Cụ hỏi, lưỡi hơi líu lại :

    - Thưa... thưa quư cụ... xin quư cụ dạy biểu cho mệ con, bà cháu nhà tôi phải làm chi bây giờ?

    - Quan Phó bảng sẽ vinh quy về bên quê nội. Mọi việc đều có hội đồng hương lư lo liệu. Cụ cứ b́nh tâm.

    Cả buổi chiều, nhà cụ đồ người ra vào nhộn nhịp như ngày Tết. Mâm cơm đă dọn ra từ lúc gà mới lên chuồng mà vẫn đậy lồng bàn, chẳng khác ǵ cái ngày vợ chồng ông Nguyễn Sinh Sắc đưa cả con cái lên đường vào kinh đô Huế ăn học.

    Đêm tĩnh mạc. Tiếng mơ rao lơm lồi trong làn gió tây nam : Chiềng làng... chiềng xă... cốc cốc cốc... thượng hạ khắp nơi ... cốc cốc cốc... nghe rơ từng lời... cốc cốc cốc... mà làm cho đúng... cốc cốc cốc... Quan trên hoả tốc... cốc cốc cốc... sức xuống dân ta... cốc cốc cốc... chọn đất dựng nhà... cốc cốc cốc.. đắp đàng, trải chiếu... cốc cốc cốc... Nào cáng, nào lọng... cốc cốc cốc... Nào trống, nào chiêng... cốc cốc cốc... xuống tận tỉnh đường cốc cốc cốc... rước quan Phó bảng... cốc cốc cốc... là Nguyễn Sinh Huy... cốc cốc cốc... bái tổ vinh quy...cốc cốc cốc... Chiềng làng... chiềng xă.. cốc cốc cốc...

    Cụ đồ cô An, chị Thanh, anh Khiêm, bé Côn nghe tiếng ông mơ rao đều nao nao trong ḷng. Niềm vui, nỗi buồn chen lấn nhau trong tâm hồn từng người. Không khí trong nhà lặng lẽ chẳng có vẻ ǵ là nhà của một ông "tân khoa Hội thí" sắp vinh quy.

    Đêm sang canh. Tiếng lá rơi nghiêng xuống mái nhà phát ra một âm thanh mỏng thiếc. Cụ đồ nghe tiếng con cháu thở đều đều trong giường. Cụ rón rén bưng cây đèn đi sang bàn thờ người con gái xấu số, Hoàng Thị Loan. Cụ gục đầu bên bàn thờ con, không để tiếng khóc bật to, toàn thân cụ rung lên, cái bàn thờ cũng rung theo. Nước mắt đổ ra nhiều mà nỗi đau đớn vẫn không vơi. Cụ ngước lên, nh́n bài vị và thầm tṛ chuyện như có mặt con :

    - Loan ơi! Từ chốn kinh đô xa xôi con có về thấu nhà lúc ni không con? Hay linh hồn con c̣n vảng vất bên chồng con trên đường vinh quy. - Cụ lại nức nở : - Con ơi ! Mười sáu tuổi con đă phải dành tiền chéo áo, đụm gạo chéo khăn để nuôi chồng đèn sách. Giừ chồng con được thành đạt th́ con đă khuất núi! - Cụ đồ lại gục xuống bàn thờ : - Loan ơi! Con rời chồng giữa cái tuổi "trẻ chưa qua, già chưa tới"! Chồng con không thể đứng vây để "gà trống nuôi con" được. Chồng con ắt phải có đôi có lứa với một người khác, người đó sẽ cư xử ra răng (ra sao) với các con của con?

    Tiếng gà gáy đầu cất lên mở cửa chân trời. Cụ đồ chợt nhớ là đêm đă tàn. Cụ bưng cây đèn, rời bàn thờ con gái trở về buồng. Cụ dừng lại bên giường cháu Khiêm. Cụ giắt chặt chiếu đắp che kín gió cho cháu ngủ ngon. Bước đến bên giường cô An, cụ sững sờ nh́n ṿng tay của con gái kê dưới đầu cháu Thanh. Nước mắt lại giàn giụa xuống má, cụ lẩm bẩm :

    - Giá con An nhà ḿnh chưa nhận trầu ăn hỏi... Giá mà ḿnh có một đứa con gái nữa... Mẹ mất th́ bú vú d́. D́ thay chị làm mẹ các cháu th́ c̣n chi bằng!

    Cụ thắp hương vái vái trước bàn thờ chồng : "Ông ơi! Con rể, người học tṛ của ông đă đạt được cái điều ông từng mơ ước... Chắc ông đang mỉm cười nơi chín suối!".

    Cụ ghé lưng nằm xuống giường, ôm chặt lấy bé Côn.
    9.3
    Sương sớm rung theo tiếng trống làng. Cả một vùng quê dậy lên cái âm thanh náo nhiệt : Trống đại, trống dờn, trống thủ cổ, chiêng, chũm choẹ, đàn bát âm.

    Trên con đường quan, nắng trải mịn vàng. Dẫn đầu đoàn rước là người làng Sen, làng Chùa. Tiếp theo là người các làng trong xă Chung Cự rồi các làng thuộc tổng Lâm Thịnh và các tổng khác của huyện Nam Đàn.

    Nguyễn Sinh Khiêm, Nguyễn Sinh Côn xứng xính trong bộ áo dài đứng ở hàng đầu đoàn học tṛ. Hội đồng lư hương của mỗi xă đứng theo đơn vị xă ḿnh. Một ông lăo chít khăn mỏ ŕu đỏ, ngang lưng thắt đai vàng, tay cầm ống vọi đồng nâng lên miệng, gọi dài giọng :

    - Hàng... ngũ... đă... chỉnh... tề... nghe... ba... hồi... trống... tiền... trước... hậu...sau... tuần... tự... mà... bước...

    Trống lệnh nổi lên. Cờ ngũ hành giương cao phía trước. Cả đoàn người rùng rùng chuyển bước giữa đồng quê tháng mười, tiến về thành phố Vinh.

    Tại thành Vinh đă diễn ra một cuộc nghênh tiếp và tiễn đưa vị tân khoa Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Quan bố chánh vẻ mặt ủ dột đi đằng sau quan tổng đốc Đào Tấn, nói vẻ xúc xiểm :

    - Thưa cụ Thượng, ngài là một đại quan đứng đầu một Bộ của triều đ́nh, đương kim tổng đốc, việc ǵ phải đi tiễn ra tận cửa Tiền một ông tân khoa vinh quy?

    Quan Đào Tấn cười mỉm :

    - Tôi không làm nghi lễ theo phẩm hàm (thứ bậc trong hàng quan lại). Tôi đón tiếp, tiễn đưa một trí giả có học vị hơn tôi...

    Quan tổng đốc Đào Tấn vượt lên khỏi quan bố chánh. ông sóng bước với quan Phó bảng Nguyễn Sinh Huy. Qua cửa thành, hai hàng lính bồng súng chào. Hai người lính cáng bước đến. Quan Đào Tấn ch́a tay mời :

    - Kính mời quan tân khoa lên cáng hồi hương. Đám rước quan vinh quy cũng đă đợi đón tại địa phận cửa thành Tây.

    Quan Phó bảng chắp tay vái :

    - Đa tạ cụ Thượng và quư quan. Xin cụ Thượng cho phép kẻ hàn nho (học tṛ nghèo) này được giữ trọn nếp nhà. Đường đất từ đây về tới quê nhà chẳng c̣n xa nữa. Tôi rất cảm kích trước tấm ḷng của cụ Thượng: “Thiên hạ chi sự thành ư đại độ chi chí sĩ, nhi bại ư hàn lậu chi tiểu nhân". (45)

    Quan Đào Tấn trở vào tỉnh đường, tốp lính vệ mang cáng không đi theo quan Phó bảng. Đoàn người đi rước quan Phó bảng vinh quy đă đợi ở ngă ba Cầu Rầm. Nh́n một bể người đông đảo, vơng lọng, cờ quạt, trống kèn, quan Phó bảng lặng người, hai mắt chớp chớp, lắc đầu...

    Viên lục sự huyện Nam Đàn thay mặt cho các hương chức và dân chúng trong miền, thưa với quan Phó bảng :

    - Thưa quan tân khoa! Khi nhận được trát (giấy truyền lệnh) của quan trên sức về, từ quan trên đến thứ dân trong huyện đều vui mừng cho Nam Đàn, cho Chung Cự, cho Kim Liên, đất văn vật đă hun đúc thêm một bậc Phó bảng phát khoa. Ai nấy đều nô nức xin được đi rước quan vinh quy. Chẳng hay trong cuộc đón rước ni có điều chi không phải th́ xin quan lớn nguyện lượng mà đại xá cho...

    Quan Phó bảng đứng giữa đám đông, nói :

    - Tôi thật không ngờ cái việc đỗ đạt của tôi đă gây ra sự mất công, mất việc của bao nhiêu người.

    - Thưa quan Phó bảng, - lư trưởng xă Chung Cự tŕnh bày - việc đón rước các vị quan tân khoa vinh quy là theo luật lệ của nhà vua xuống chiếu cho dân phải thi hành. Vậy kính quan trên lên vơng để vinh quy bái tổ ạ.

    - Tôi học được dăm ba chữ thánh hiền, nhờ phúc tổ chiếm được một chút khoa bảng. Tôi chưa làm được một việc chi có ích cho dân mà đă gây ra sự phiền nhiễu dân t́nh. Vả lại, từ nhỏ tôi ăn học, tôi lớn lên ở trong nhà bố mẹ vợ, nay tôi sẽ về đó, chứ về làng Sen tôi mô có nhà cửa ở đó?

    - Thưa quan Phó bảng, quan đem vinh dự về cho làng xă. Nhân dân ai cũng được thơm lây. Cho nên dân làng Sen theo sự bày biện của hội đồng hương lư đă dựng nhà đón quan về quê nội để đúng với thể thức Vinh quy. Thực t́nh dân làng Hoàng Trù cũng định làm nhà to đón quan về bên đó.

    Quan Phó bảng chau mày khi nghe việc quê nội, quê ngoại của ḿnh đều muốn đua nhau làm nhà đón ḿnh "vinh quy". Ông nói giọng trầm trầm :

    - Thưa tất cả bà con, thưa các thầy hào lư! Việc bà con dân làng thuận làm nhà cho tôi bên nội cũng như bên ngoại, thực t́nh tôi rất khó xử. Tôi không dám nghĩ một điều chí khác về tấm ḷng vàng của dân làng. Nhưng nghĩ về ḿnh thấy việc thi đỗ đại khoa của tôi chưa đem lại một chút lợi ích chi cho dân làng cả. Biết mô lúc tôi ra ngồi ghế quan trường tôi lại trở thành cái nạn cho dân : "Cướp đêm là giặc, cướp ngày là quan" mà.

    Cả khối người cười rộ và ào lên như sóng :"Không đâu, quan Phó bảng Sắc của chúng tôi sẽ là ông quan v́ dân, thương dân..." Họ công kênh hai cậu con trai quan Phó bảng Sắc lên vai. Quan Phó bảng nh́n hai con mặt đỏ gay thẹn thùng. Ông nói với dân mà cũng là lời tự răn ḿnh :

    - Tôi luôn nhớ và làm theo bằng được cái điều: Thực kỳ thực bất hủy kỳ khí, ấm kỳ thụ giả bất chiết kỳ chi. Nghĩa là : ăn cơm xong đừng đập bát, ngồi mát dưới bóng cây chớ bẻ cành.

    Cả khối người lại reo lên cùng tiếng trống tiếng chiêng. Quan Phó bảng Sắc chắp hai tay giơ cao qua đầu nói :

    - Xin bà con để tôi cùng đi bộ về kẻo mất ngày mất buổi.

    Các ông lư hương vẫn nài nỉ quan Phó bảng lên vơng. Nhưng ông vừa đi vừa khuyên họ miễn cho ông phải nằm để người khác khiêng.

    Quá trưa, đám rước quan Phó bảng vinh quy về tới con đường rẽ vào làng Sen. Nhân dân làng Sen và các làng bên đă đứng thành hai hàng dài. Đường trải kín chiếu hoa. Quan Phó bảng nh́n con đường về làng, hỏi ông tiên chỉ tay cầm bó hương nghi ngút và cái biển có bốn chữ "Phó bảng phát khoa" :

    - Thưa cụ tiên chỉ, làng đón tôi về "vinh quy bái tổ" sao c̣n "rào" đường lại?

    Ông tiên chỉ và mọi người đều dồn mắt xuống con đường làng rực rỡ chiếu hoa. Giọng ông tiên chỉ hơi run :

    - Thưa thưa... thưa quan lớn...

    - Ấy chết! - ông Sắc đỡ lời. - Tôi vẫn là dân của làng Sen chứ có khác chi mô.

    Ông tiên chỉ b́nh tĩnh lại :

    - Thưa quan Phó bảng, dân làng muốn được bày tỏ ḷng cung kính lúc quan về vinh quy ạ.

    - Câu nói đầu lưỡi của dân ta là : "Quan nhất thời, dân vạn đại". Dù tôi đỗ đạt cao tới đâu, làm đến chức tước to lớn mấy, tôi vẫn là con người b́nh thường, người dân. Dân là gốc. Gốc rễ của tôi là đứa bé mồ côi cha mẹ, đi chân đất, ngồi lưng trâu, nay tôi nên người có chữ, "chữ là mắt" th́ càng phải biết dạo lư, sống có đạo lư . Đạo lư là gốc. Chính kỳ bổn nhi vạn vật lư. Nghĩa là : Cái gốc đúng th́ vạn sự được yên ổn.

    Những chiếc chiếu trải được cuốn lại. Ông Sắc sải bước trên con đường làng khấp khểnh hố chân trâu. Ông đứng sựng, mắt đăm đăm nh́n ngôi nhà mới dựng, cô đơn giữa một khoảnh đất rộng quá tầm ước đoán của ông. Bà con đứng đầy sân, đầy vườn. Hai người bạn thân - cử Quư, giải San - và người anh - Nguyễn Sinh Thuyết - xúm xít bên ông. Những người bạn danh nho này đều nhận thấy ông Phó bảng Sắc không vui, đang có điều ǵ áy náy trong ḷng.

    Ông giải San hỏi :

    -Chắc quan bác đang có điều chi đó không vui?

    - Tôi thấy ngượng về sự đón rước ồn ào này và làng đă dựng cho tôi nhà quá lớn, vườn quá rộng.

    - Cái nhà ngang để đun bếp là dỡ ở bên tôi đưa về đó chú ạ. - ông Thuyết nói.

    Viên lư trưởng vẻ cung kính thưa :

    - Bẩm quan Phó bảng, thể theo nguyện vọng của dân chúng và ư kiến chung của hội đồng lư hương th́ cấp một mẫu bảy sào đất công điền để làm ruộng lộc điền, và bốn sào mười bốn thước làm vườn, dựng nhà năm gian để gia đ́nh quan có chỗ trú nắng mưa. Lẽ ra dân làng phải xây nhà ngói rước quan về ở mới thỏa, v́ lần đầu tiên trong lịch sử xă Chung Cự này, quan là người chiếm được bảng vàng Hội thí.

    Một vị khác trong hội đồng lư hương thưa tiếp :

    - Thưa quan tân khoa, dân làng c̣n mong muốn được bổ theo đầu người trong xă, góp tiền lại mở hội ăn mừng ba ngày, có hát tṛ nhà tơ, hát tuồng và hát chèo trong suất ba đêm liền...

    Bà con đứng ở sân và tận ngoài đường đều hưởng ứng : "Phải mở hội ăn mừng... ăn mừng thật to mới thỏa dạ cái dịp vui hiếm có ni ạ".

    Vẻ mặt ông Sắc càng buồn buồn. Đôi lông mày nét mực tàu chuyển động lấp láy, giọng ông xúc động :

    - Tôi rất cảm kích trước sự đối đăi hậu hĩ của dân làng, của hội đồng hương lư. Nhưng, tôi rất đau ḷng, v́ ruộng đất làng ta chia cho đầu người th́ mỗi người chỉ được một mảnh đủ cho chó nằm tḥi đuôi. Nhưng số ruộng đó hầu hết lại ở trong tay một số ít người. Nay lại dành cho một ḿnh tôi những một mẫu bảy sào ruộng cày, bốn sào mười bốn thước đất vườn. Ồ! Chẳng hóa ra việc đỗ đại khoa của tôi chưa thấy cái vinh dự cho dân làng là đâu mà lại là cướp ruộng, tức là cướp bát cơm của dân rồi! Bà con nghĩ coi, giữa ngày mùa ni mà nhiều nhà không có một hạt thóc để nhổ râu! Cho nên, tôi xin hoàn lại ba sào vườn, bảy sào ruộng. Tôi nhận một mẫu ruộng, nhưng dân làng cho tôi được quyền bán một phần nửa lấy tiền gộp lại với số tiền mà dân làng đă góp để ăn mừng; tất cả món tiền này đem chia cho những nhà nghèo nhất trong làng với mức nhà được ít là sáu tiền, nhà được nhiều là một quan. - Ông hạ thấp giọng : - Thiết tưởng, người đáng được ăn mừng nhất của cái ngày này là thầy Hoàng Xuân Đường, là Hoàng Thị Loan. Than ôi! Cả hai người ân nhân của tôi đều đă khuất!

    Cả làng, những cặp mắt ướt nh́n về quan Phó bảng Sắc. Ông cử Quư xua tan cái không khí nặng nề bằng cách cho hai người chức sắc treo lên bức văn trướng bằng lụa và ông cất giọng đọc.

    Tiếng tri âm trong bài văn trướng cứ lắng sâu, lắng sâu tận đáy tâm hồn quan Phó bảng Nguyễn Sinh Sắc. C̣n Nguyễn Sinh Côn lại ghi sâu vào ḷng ḿnh về những điều cha nói với dân làng trong buổi "vinh quy".

    ---------------
    Chú thích:

    (38)Một loại quang bằng mây đan, chuyên để xách hũ, liễn, nồi đất...
    (39) Vợ chồng cụ Nguyễn Sinh Sắc ở với nhau được gần hai mươi năm
    (40) Ư nói những người học chữ nho
    (41) Đào Tấn lại được triều đ́nh cử ra làm Tổng đốc An Tĩnh lần thứ hai, từ 1898 đến 1902
    (42) Núi Chung khí vượng nên kiên cố
    Non lĩnh nhiều mây hóa lâu năm
    (43) Nhà thơ có cảm xúc chân thực
    (44) Như có bức vẽ trong thơ
    (45) Việc trong thiên hạ thành được là do ở người độ lượng lớn lao mà hỏng bởi ở đứa tiểu nhân bỉ lậu. Cụ Sắc mượn câu này trong sách "Vân Đài loại ngữ" của Lê Quư Đôn, ca ngợi Đào Tấn, khinh tên Bố chánh Nghệ An.

    Llévame lejos que cuando estoy contigo parece cerca.


    ...
    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

+ Trả lời
Trang 1/4 1 2 3 4 CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh