share experienceshareexperiencememcachedmemcached
+ Trả lời
Hiện kết quả từ 1 tới 3 của 3

Chủ đề: [Ngữ Văn 8] Nhớ rừng - Thế Lữ

  1. #1
    Waiting! Về Nơi Nắng Không Đến
    Moderator

    Ngày tham gia
    Oct 2009
    Bài viết
    28.020
    Next Level: 0

    [Ngữ Văn 8] Nhớ rừng - Thế Lữ

    Nguồn: diendankienthuc



    Nhớ rừng - Thế Lữ


    Ngay từ đầu khi mới xuất hiện trên thi đàn văn học, phong trào Thơ Mơi đă đánh dấu cho sự đổi thay lớn lao của nền thi ca dân tộc. Để có được những sự thay đổi lớn lao ấy , đó là sự đóng góp miệt mài và say mê của hàng loạt cây bút với hồn thơ lăng mạn và giàu cảm xúc. Một trong những cây bút xuất sắc có mặt ngay từ lúc ban đầu là Thế Lữ. Rất nhiều tác phẩm của ông đă góp phần to lớn cho sự phát triển của Thơ Mới mà tiêu biểu nhất là tác phẩm Nhớ Rừng. Ở trongNhớ Rừng , Thế Lữ đă thể hiện một tâm sự u uất, chán nản và khát vọng tự do cháy bỏng tha thiết qua lời mượn của con hổ trong vườn bách thú. Đó cũng là tâm sự chung của những người Việt Nam yêu nước trong hoàn cảnh mất nước.

    Trong những ngày đầu mới ra đời, phong trào Thơ Mới đă có những sự phát triển trong cả phong cách và nội dung. Trên các chặng đường phát triển, Thơ Mới đă dần giải phóng khỏi tính quy phạm chặt chẽ và hệ thống ước lệ có tính “phi ngă” của thi ca cổ điển. Các nhà thơ đă khám phá thế giới bằng chính những giác quan, những cảm xúc rất thực của ḿnh. Đó cũng là lúc xuất hiện cái tôi rơ nét trong thơ. Ở đó là sự vươn lên của những cảm xúc mănh liệt của con người vượt thoát khỏi thực tế khách quan. Chính v́ vậy Thơ Mới có khuynh hướng thoát ly thực tại, thể hiện tâm trạng bất hoà, bất lực trước thực trạng xă hội. Qua đó, Thơ Mới cũng đă bộc lộ sự phản kháng gay gắt trước thực tại tầm thường giả dối, tù túng giam hăm ước mơ con người.

    Cùng chung thái độ phản kháng ấy, Thế Lữ đă viết nên những ḍng thơ đầy tâm trạng trong bài Nhớ Rừng. Mượn lời con hổ ở vườn bách thú để nói lên tâm trạng chính ḿnh. Thế Lữ đă dựng lên một khung cảnh vừa rất thực vừa ẩn chứa những điều thầm kín sâu xa. Tất cả h́nh ảnh đuợc nhắc đến trong bài đều là không gian xoay quanh cuộc sống của con hổ. Thực tế là con hổ đang bị giam hăm trong một cũi sắt và nó cảm nhận cuộc sống của ḿnh chứa đựng những u uất ngao ngán trong cảnh giam hăm tù túng, những cảnh “tầm thường giả dối” ở vườn bách thú. Chính v́ thế, nó cảm thấy tiếc nhớ về quá khứ oanh liệt nơi núi rừng hùng vĩ. Đó là hai cảnh tượng hoàn toàn trái ngược nhau giữa thực tại và dĩ văng.

    Hổ vốn là loài vật được xem là chúa tể của muôn loài, nhưng nay v́ sa cơ mà phải chịu sống cảnh “nhục nhằn” trong cũi sắt. Không gian cuộc sống của vị chúa tể rừng xanh đă bị thu hẹp và từ nay bị biến thành một “tṛ lạ mắt”, một “thứ đồ chơi” trong con mắt mọi người. Đối với nó, cuộc sống bây giờ đă trở nên vô vị nhạt nhẽo bởi đang phải sống nơi không tương xứng với tư cách của một vị chúa sơn lâm.

    Gậm một khối căm hờn trong cũi sắt
    Ta nằm dài trông ngày tháng dần qua

    Hổ đă cảm thấy bất lực bởi chẳng có cách nào thoát khỏi cuộc sống tù túng nên cũng đành ngao ngán nh́n thời gian trôi qua một cách vô ích. Nhưng cho dù phải ở trong hoàn cảnh nào th́ kẻ thuộc “giống hùm thiêng” cũng luôn biết thân phận thực sự của ḿnh là một vị chúa. Ông ba – mươi đă tỏ thái độ khinh mạn, coi thường trước những sự thiếu hiểu biết về sức mạnh thật sự của thiên nhiên của những con người “ngạo mạn ngẩn ngơ” chỉ biết “giương mắt bé giễu oai linh rừng thẳm”. Chán nản làm sao cảnh phải chịu sống ngang bầy cùng với “bọn gấu dở hơi”, với “cặp báo chuồng bên vô tư lự”! Làm sao chịu được cảnh sống cam chịu chấp nhận số phận của những “người bạn” đồng cảnh ngộ. Đó là nỗi buồn, nỗi uất hận dồn nén để làm nên những hờn căm chất chứa trong ḷng. Mệt mỏi, ngao ngán, bất lực! Trong hoàn cảnh đáng thương ấy, hổ đă nghĩ về cuộc sống quá khứ huy hoàng của ḿnh:

    Ta sống măi trong t́nh thương nỗi nhớ
    Thuở tung hoành hống hách những ngày xưa
    Nhớ cảnh sơn lâm bóng cả cây già
    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi
    Với khi thét khúc trường ca dữ dội…

    Con hổ đă tiếc nhớ về thuở “hống hách” nơi “bóng cả cây già”. Đó là nỗi nhớ đau đáu về nơi rừng thẳm. Nhớ rừng là tiếc nhớ tự do, nhớ về “thời oanh liệt”, là nhớ về cái cao cả, chân thực, tự nhiên . Ở chốn nước non hùng vĩ ấy, con hổ đang ngự trị một sức mạnh giữa cuộc đời. Bản lĩnh của một vị chúa sơn lâm luôn thể hiện xứng đáng quyền lực tối cao của ḿnh với sức mạnh phi thường dữ dội. Những ǵ nó cần phải làm là khiến mọi vật đều phải nể sợ thuần phục. Ở đó, con hổ đă hiện lên với tư thế hiên ngang ngạo nghễ nhưng vẫn toát lên vẻ đẹp oai phong lẫm liệt giữa núi rừng hùng vĩ:

    Ta bước chân lên dơng dạc đường hoàng
    Lượn tấmthân như sóng cuộn nhịp nhàng
    Vờn bóng âm thầm lá gai cỏ sắc
    Trong bóng tối mắt thần khi đă quắc
    Là khiến cho mọi vật phải im hơi
    Ta biết ta chúa tể của muôn loài
    Giữa chốn thảo hoa không tên không tuổi

    Vẻ đẹp thật sự của hổ là đây! Từng bước chân, từng tấm thân ,từng ánh mắt đă khơi gợi lên một vẻ vừa dũng mănh uy nghi vừa nhẹ nhàng uyển chuyển. Trong từng hành động, loài mănh thú kia đă cho mọi vật thấy được sức mạnh tuyệt đỉnh khiến cho tất cả phải “im hơi”. Cuộc sống tự do giữa chốn rừng thẳm măi măi là một điều rất cao quư. Ở đó hổ thực sự được hưởng một cuộc sống tươi đẹp mà thiên nhiên đă dành cho. Đó là những thời khắc mănh hổ đang “say mồi”, đang ngắm sự đổi thay của “giang sơn”, đang say giấc và đang muốn chiếm lấy riêng “phần bí mật” . Nó đă được thoải mái trong chính giang sơn của ḿnh và khẳng định giá trị thật sự của cuộc sống với những khung cảnh lộng lẫy tươi đẹp nên thơ và cũng đầy sức quyến rũ. Nhưng bây giờ , tất cả cũng chỉ c̣n là những hoài niệm thuộc về quá khứ. Hổ chẳng bao giờ c̣n được chứng kiến những cảnh “đêm vàng bên bờ suối”, được nh́n thấy cảnh “những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn”, được nghe thấy tiếng chim ca, được đắm ḿnh trong cảnh “b́nh minh cây xanh nắng gội”, được đợi chờ “chết mảnh mặt trời” của những *********** chiều “lênh láng máu sau rừng”. Những cảnh ấy chỉ để lại trong con hổ những cảm giác tiếc nuối, ngậm ngùi trong sự xúc động mạnh mẽ, dồn dập của những câu hỏi đau đớn xót xa. Nỗi nhớ miên man tuôn trào với cảm xúc về quá khứ tươi đẹp đă khép lại giấc mơ huy hoàng rong một tiếng than thảm thiết:

    Than ôi ! Thời oanh liệt nay c̣n đâu

    Được sống lại với những kư ức tươi đẹp ở chốn núi rừng hùng vĩ, hổ chợt nhận ra sự tầm thừơng giả dối của những khung cảnh nơi nó đang sống. Trong cái nh́n ngạo nghễ của hổ là những cảnh “không đời nào thay đổi”, những cảnh đơn điệu nhàm chán do con ngưới sửa sang và cố đ̣i “bắt chước”. Chúa tể rừng xanh đă tỏ thái độ khinh miệt, chán chường trước những cảnh vật nhỏ bé thấp kém của những sự giả dối nhân tạo. Đó không phải là nơi xứng đáng để sống của một đấng thống lĩnh. Dẫu có cố gắng sửa sang th́ đó cũng chỉ là những “dải nước đen giả suối chẳng thông ḍng” len dưới những “mô g̣ thấp kém” , là những “hoa chăm, cỏ xén, lối phẳng, cây trồng” không có ǵ là “bí hiểm” “hoang vu”. Những cảnh sống ngụy tạo ấy khiến cho hổ càng tiếc nhớ chốn “ngàn năm cao cả âm u”.

    Chán ghét cuộc sống thực tại, ôm niềm uất hận không nguôi, hổ khát khao một cuộc sống tự do mănh liệt. Tất cả tâm tư t́nh cảm của hổ đều thuộc về nơi rừng thẳm ngàn năm âm u. Cũng qua đó, chúa sơn lâm đă gởi một lời nhắn tha thiết của ḿnh về núi rừng. Dẫu là đang bị sa cơ nhưng hổ đă không giấu được niềm tự hào khi nói đến chốn “nước non hùng vĩ”. Giang sơn ấy là nơi hổ đă có những ngày tháng tươi đẹp, thoả chí vùng vẫy trong không gian riêng biệt thênh thang. Cho dù bây giờ sẽ chẳng bao giờ được sống lại ở những nơi xưa ấy nhưng hổ vẫn không bao giờ thôi nghĩ về “giấc mộng ngàn to lớn”. Vị chúa mất ngôi đă khẩn cầu để được măi sống trong những kư ức, những hoài niệm của những vẻ đẹp một đi không trở lại:

    Để hồn ta phảng phất được gần ngươi
    Hỡi cảnh rừng ghê gớm của ta ơi

    Nỗi ḷng của hổ là tâm sự của chàng thanh niên Thế Lữ. : mơ về cuộc sống tươi đẹp đă qua trong quá khứ. Đó cũng là tinh thần chung của hầu hết các bài thơ của Thế Lữ cũng như trong phong trào Thơ Mới, mang theo khát khao của con người muốn được sống chính là ḿnh.
    Nhớ Rừng không thể thoát ra khỏi nỗi buồn, “tâm bệnh của thời đại” bấy giờ. Nhưng bài thơ đặc sắc chính bởi v́ tạo nên điểm gặp gỡ giữa sự u uất của người dân mất nước và tâm trạng bất hoà bất lực trước thực tại của thế hệ thanh niên trí thức tiểu tư sản. Qua đó khơi lên niềm khát khao tự do chính đáng .

    Giàu cảm hứng lăng mạn và cảm xúc mănh liệt, Nhớ Rừng đă lan toả một hồn thơ hối thúc và nhiều h́nh ảnh thơ đầy ấn tượng miêu tả vẻ đẹp hùng vĩ của núi rừng. Thành công của Thế Lữ là đă thể hiện một trí tuởng tượng phong phú khi mượn h́nh ảnh con hổ trong vườn bách thú để nói hộ cho những tâm sự kín đáo sâu sắc của ḿnh. Qua đó diễn tả nỗi chán ghét cảnh sống tù túng, đồng thời khơi lên t́nh cảm yêu nước của người dân thuở ấy.





    Keep your face to the sunshine and you cannot see the shadow.




    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

  2. #2
    Waiting! Về Nơi Nắng Không Đến
    Moderator

    Ngày tham gia
    Oct 2009
    Bài viết
    28.020
    Next Level: 0

    Phân tích Bài "Nhớ rừng" của Thế Lữ


    Bài "Nhớ rừng" của Thế Lữ thực chất là một tuyên ngôn của chủ nghĩa lăng mạn, không chấp nhận cái tầm thường...

    Sự đa tầng, đa nghĩa thường làm cho thơ giàu sức khái quát và cũng là thuộc tính tất yếu làm cho thơ có thể thành thi phẩm bất hủ. Sụ lay động và lấp lánh của thơ thường loé lên, toả sáng từ nhiều tầng cảm xúc. Phải chăng chính những cảm xúc hợp lư vẫn cứ mở rộng thơ ra về kích cỡ để tạo nên từng nét thơ, hoặc cả dung mạo một bài thơ bất tử? Đọc "Nhớ rừng" của Thế Lữ chừng như nhiều thế hệ đă nhận định như vậy...

    Xưa nay, sự bí mật và kỳ vĩ của thơ ca thường khởi nguyên từ bút pháp rất dung dị mà đậm chất hàm súc. Chỉ một "lốt" hổ trong "Nhớ rừng", Thế lữ cũng đă tạo ra biết bao tầng nghĩa rất khác nhau, biến con hổ trong thơ hoá thân thành muôn h́nh vạn trạng của muôn điều suy tưởng từ những "gốc rễ" nhận thức rất riêng của từng người đọc.

    Với Thơ Mới, Thế Lữ không luận chiến mà ông ung hoành dùng ngọn bút của chủ nghĩa lăng mạn để lột tả cái khí phách của vị chúa sơn lâm khi bị hăm ḿnh trong "cũi sắt".

    Gặm một khối căm hờn trong cũi sắt,
    Ta nằm dài, trông ngày tháng dần qua.
    Khinh lũ người kia ngạo mạn, ngẩn ngơ,
    Giương mắt bé riễu oai linh rừng thẳm
    Nay sa cơ, bị nhục nhằn tù hăm
    Để làm tṛ lạ mắt, thứ đồ chơi.

    Thơ cũ giam ḿnh trong lốt hổ, nhà thơ tả hổ sa cơ bằng bút pháp và kích cỡ vung ngang, chém dọc rất tự nhiên, ngẫu hứng, sắc bén bằng tố chất mới lạ của Thơ Mới?

    Nếu trước đó, nhà thơ miền Nam Đông Hồ đă ví thơ cũ như "Chiếc áo năm xưa đă cũ rồi", cũ về màu sắc đặt định, cũ cả về kích thước của cảm xúc... th́ giờ đây Thế Lữ không muốn chỉ ra hết tất thảy nhược điểm của thơ cũ. Trái lại, chừng như ông nh́n thấy hồn thơ cũ vẫn c̣n âm vang trong Thơ Mới, có điều nó được diễn đạt thoải mái hơn, tự do hơn. Con hổ bị giam nhưng vẫn cố ánh lên thứ khí phách phi thường bằng đặc chất của chủ nghĩa lăng mạn qua những ngôn từ cực mạnh của của "gió rừng", của "giọng nguồn hét núi", của những động từ dữ dội: "thét, dơng dạc, cuộn, quắc...":

    Ta bước chân lên, dơng dạc, đường hoàng,

    Lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng,
    Vờn bóng âm thầm, lá gai, cỏ sắc.
    Trong hang tối, mắt thần khi đă quắc
    Là khiến cho mọi vật đều im hơi.
    Ta biết ta chúa tể muôn của loài
    Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi.

    "Giữa chốn thảo hoa, không tên không tuổi" phải chăng là câu thơ làm cho mănh lực phi thường của chúa sơn lâm trước muôn loài vụt tan biến... mọi oai linh? Bởi quyền uy đó chẳng có ǵ để đối chứng, để xác tín chăng? Cái siêu phàm chợt đồng nghĩa với nỗi cô đơn? Trong bài thơ "Hi Mă Lạp Sơn" Xuân Diệu chừng như cũng chỉ ra điều đó:

    Ta là Một, là Riêng, là Thứ Nhất
    Không có chi bè bạn nổi cùng ta
    (.....)
    Ta bỏ đời, mà đời cũng bỏ ta
    Giữa vắng ngắt, giữa lạnh lùng thế tuyệt!

    Phải chăng h́nh ảnh hổ bị giam là một ẩn dụ về sự độc đáo trong khuôn khổ của thơ cũ, cũng chính là một thứ độc đoán tự giam ḿnh? Khuôn khổ thơ hay là chiếc "cũi sắt" giam hổ trong thơ:

    Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối,
    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?
    Đâu những ngày mưa chuyển bốn phương ngàn
    Ta lặng ngắm giang san ta đổi mới?
    Đâu những b́nh minh cây xanh nắng gội
    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?
    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

    "Đâu... đâu... đâu...?" điệp động liên hồi về một quyền năng chỉ c̣n trong hoài niệm của hổ. Sự khuôn định, niêm luật khắt khe chưa hẳn là thế mạnh của thơ cũ, ngược lại nó g̣ bó thơ cũ. Nhưng tính súc tích, cô đọng về ngôn từ của thơ cũ vẫn có thể vận dụng để làm giàu đẹp cho Thơ Mới. Yêu tự do, muốn vượt mọi khuôn định, nhưng sự dài ḍng, khuynh hướng viết "thoải mái", "tràng giang" nhất địng không thể là thế mạnh của Thơ Mới, mà nó đă vấp phải trong giai đoạn sơ khai.

    Phải chăng ngoài sự thắng lợi của Thơ Mới, vị chủ tướng Thế Lữ vẫn c̣n rất trân trọng với thơ cũ về năng lực đậm đặc và súc tích của nó? Nếu như vậy, "Nhớ rừng" của Thế Lữ đă mở ra triển vọng cho Thơ Mới về cả hai cực: tiến tới sự phóng khoáng của ngày mai trong sự kế thừa, chắt lọc bao tinh túy của cái hôm qua?



    Keep your face to the sunshine and you cannot see the shadow.




    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

  3. #3
    Waiting! Về Nơi Nắng Không Đến
    Moderator

    Ngày tham gia
    Oct 2009
    Bài viết
    28.020
    Next Level: 0

    “Nhớ rừng” và ng̣i bút tạo h́nh lăng mạn của Thế Lữ


    Ai đă từng xem bức chân dung Hoàng Lập Ngôn vẽ Thế Lữ theo lối tinh tướng họa, mới thấy họa sĩ này sao mà tinh quái và thâm thuư. Ông đă thể hiện gương mặt tác giả Nhớ rừng trong bộ mặt ...chúa sơn lâm! Nghĩa là mặt một con hổ chính cống. Mà cũng phải! Không có cái con - hổ - nhớ - rừng hồi ấy th́ làm ǵ có Thế Lữ! Vả, cái gă thi sĩ có công “dựng thành nền Thơ mới ở xứ này” cũng đáng được xem là một chúa sơn lâm chứ sao! Ngang cơ quá c̣n ǵ! Tất nhiên, họ không giao đấu, mà chỉ giao nhau. Giao trong từng nét một để cùng làm nên một chân dung kép. Thế Lữ - Hổ hay là Hổ - Thế Lữ th́ cũng vậy! “Thực” đến thế th́ đạt mức “siêu” c̣n ǵ! Quái lạ thay là ḷng tri kỷ! Quái lạ thay là nghệ thuật tạo h́nh!

    Tôi vừa nói đến nghệ thuật tạo h́nh - cái ngành nghệ thuật mà trước khi thành thi sĩ, Thế Lữ đă từng dấn thân vào, tuy nửa vời. Dầu vậy, cái máu hội họa, cái vốn hội họa vẫn đủ cho ông có được một “gu” tạo h́nh khi cầm ngọn bút thi nhân. Thế Lữ đă làm thơ bằng hồn thơ đậm tính hội họa. Nhớ rừng là thi phẩm rất tiêu biểu. Có thể sánh thế này: nếu Hoàng Lập Ngôn vẽ con Hổ - Thế Lữ bằng hội họa đơn thuần, th́ Thế Lữ đă vẽ con Hổ - nhớ rừng bằng hội họa của... thơ. Trong nét bút Thế Lữ, người ta không chỉ thấy họa pháp của một họa sĩ từng theo học Mỹ thuật Đông Dương, mà trùm lên tất cả là một thi pháp nghiêng về tạo h́nh của thi phái Lăng mạn. V́ thế mà, Nhớ rừng vừa là một “khúc trường ca dữ dội” thể hiện tâm trạng vĩ đại của chúa sơn lâm, vừa là một họa phẩm hoành tráng từng bước làm nổi hằn lên trên mặt bằng của câu chữ h́nh tượng vị “chúa tể cả muôn loài”.

    * *
    *

    Nhiều người đă nói đến nội dung xă hội của bài thơ. Thậm chí đă có lúc người ta cho rằng nội dung yêu nước mới là đích thực và đáng kể nhất của Nhớ rừng. Hướng lĩnh hội ấy càng ngày càng bộc lộ sự ấu trĩ của nó. Nội dung kia, nếu có, phải ẩn ch́m ở bề sau. Tâm trạng của chúa sơn lâm là một bi kịch. Không chỉ của một con hổ. Không chỉ của riêng Thơ mới. Mà trước hết và trên hết là bi kịch của cái tôi lăng mạn. Bởi nó bắt nguồn từ một trạng thái tâm lư rất đặc trưng của những cái tôi lăng mạn: do bất ḥa với thực tại mà thoát ly vào thế giới bên trong của chính ḿnh, cố t́m kiếm một thực tại khác để thay thế thực tại bên ngoài. Mộng tưởng là đời sống của những cái tôi lăng mạn. Cái tôi này t́m vào thực tại hồi tưởng, cái tôi kia t́m vào thực tại huyễn tưởng, cái tôi khác lại t́m vào thực tại viễn tưởng... Kẻ t́m vào hồi tưởng, thực chất, đă đối lập hiện tại với quá khứ. Với nó, quá khứ mới vàng son, mới là thời hoàng kim, thời oanh liệt. Chỉ trong quá khứ ấy, nó mới thấy hạnh phúc, thấy hài ḥa. Mà thời đó th́ vĩnh viễn mất rồi, ch́m vào dĩ văng rồi. Chỉ có thể sống lại trong hồi tưởng thôi. V́ thế, nó dùng hồi tưởng để hồi hiện quá khứ, phục chế quá khứ và tô điểm thêm cho quá khứ. Hoài cổ (có thời người ta coi là thoát ly vào quá khứ) là một đời sống tinh thần của cái tôi lăng mạn ấy, về sau trở thành một cảm hứng phổ biến của văn học lăng mạn, cũng là v́ thế.

    Riêng ở Việt Nam, lại có thêm một lư do nữa khiến mối bất ḥa cố hữu kia trầm trọng và gay gắt hơn: t́nh trạng thuộc địa của thực tại. Do thế, bất ḥa với thực tại trước tiên là phản ứng thẩm mỹ của cái tôi lăng mạn, sau nữa là phản ứng chính trị của ḷng yêu nước. Lớp nghĩa thứ hai đến sau và ở bề sau, là như vậy. Thế Lữ đă kư thác những điều đó vào vị chúa sơn lâm này. Con hổ bị cầm tù trong cũi sắt giữa vườn bách thú vẫn ôm trong ḷng “niềm uất hận ngàn thu”, vẫn “đương theo giấc mộng ngàn to lớn” chính là hiện thân của bi kịch ấy. Đối với nó, thực tại là cũi sắt, là vườn bách thú nhỏ mọn, tầm thường, giả dối, vô vị, vô tích sự. C̣n rừng là thời vàng son, thuở hoàng kim trong hồi tưởng. Nhớ rừng là nhớ một thế giới cao cả, nhớ chốn thiêng liêng, nhớ cơi tự do. Rừng là thời oanh liệt, thời làm chủ nhân ông của đại ngàn. Toàn bộ ư nghĩa cuộc đời ḿnh là ở nơi rừng. Đánh mất rừng cũng là đánh mất ḿnh. Hằng ngày cứ thấy ḿnh bị tầm thường hóa đi mà bất lực! Khao khát rừng là khao khát được là ḿnh! Đó chẳng phải cũng là khao khát của một cái tôi đ̣i giải phóng đó ư? Bởi đây là chúa sơn lâm, nên logic là nhất nhất mọi cái phải ở tầm “chúa tể cả muôn loài”. Nghĩa là đều phải siêu phàm, kỳ vĩ, chế ngự, bao trùm. Nhưng đằng sau những cái riêng thuộc về tập tính loài hùm thiêng, ta đều thấy cái chung với con người. Cái lư của việc t́m đến h́nh tượng con hổ này của Thế Lữ là ở đó.

    Nhưng cảm xúc mà cái tôi - hổ này đang mang nặng, thực chất, là ǵ vậy ? Tôi đă có lần viết : Thơ mới là một điệu sầu mênh mông, mà nếu đem phân chất ra th́ sẽ thấy trong đó ba mối sầu đậm nhất : sầu nhân thế, sầu thời thế, sầu thân thế. Ba mối sầu này đan quyện, chuyển hóa sang nhau cất lên mà thành Thơ mới. Nhớ rừng nghiêng về mối sầu thứ ba. Tâm trạng chúa sơn lâm chính là tâm trạng “hùm thiêng khi đă sa cơ”, tâm trạng bi tráng của một anh hùng thất thế đang phẫn uất về thân thế ḿnh. V́ vậy lời than đầy hùng tâm tráng chí này không chỉ rung chuyển rừng già, mà c̣n làm rung chuyển muôn vạn con tim của thời bấy giờ:

    Than ôi ! Thời oanh liệt nay c̣n đâu?

    Song ngẫm ra, ai chẳng có thời oanh liệt của riêng ḿnh? Ai chẳng có cái quăng huy hoàng chói lọi, cái đoạn ư nghĩa nhất của đời ḿnh? Bất cứ người nào trong cuộc đời này, nếu là người luôn khát sống th́ rồi sẽ có lúc ngấm nỗi hận sầu thất thế, để rồi cất lên cái tiếng than u uất kia của chúa sơn lâm thôi. Trong mỗi cuộc đời, mỗi kiếp người đều tiềm ẩn cái tiếng than đầy nhân bản ấy của con hổ này. Vậy là sầu thân thế cũng tiềm tàng cả sầu nhân thế. Nói con hổ nhớ rừng mang trong nó một tâm trạng vĩ đại c̣n v́ ư nghĩa tiêu biểu lớn lao đó.

    * *
    *

    Tính tạo h́nh trong bút pháp Thế Lữ chủ yếu thể hiện ở việc khắc họa cái Phi thường. Và để nó sắc nét, thi sĩ đă duy tŕ một nguyên tắc tương phản khá nhất quán và nhuần nhuyễn giữa cái Phi thường và cái Tầm thường. Chúa sơn lâm được đặt ở trung tâm bức tranh, c̣n tất cả th́ được nh́n qua con mắt của loài mănh thú này, do đó mà tất cả đều trở nên tầm thường. Đối diện với hổ, ngay con người cũng chỉ là “lũ người ngạo mạn ngẩn ngơ”, với “mắt bé” dám “diễu oai linh rừng thẳm”. C̣n bọn gấu th́ “dở hơi”, cặp báo chỉ là loài ươn hèn nô lệ, hời hợt “vô tư lự”. Cái thế giới rừng già kề bên chúa sơn lâm thảm hại đă đành. Mà ngay cả bao tạo vật, cảnh trí lớn lao trong vũ trụ này dưới mắt nó cũng tầm thường vô nghĩa. Bằng cách tương phản thế, h́nh ảnh chúa sơn lâm trở nên kỳ vĩ !

    Với tiếng gió gào ngàn, với giọng nguồn hét núi / Với khi thét khúc trường ca dữ dội, rồi Ta bước chân lên dơng dạc đường hoàng / lượn tấm thân như sóng cuộn nhịp nhàng..., con mănh thú mới là chúa tể muôn loài trong xứ sở của ḿnh, giữa chốn rừng núi. Nhưng đến đoạn này, th́ con hổ kia đă dần trở thành chúa tể cả vũ trụ :

    Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan ?
    Đâu những chiều mưa chuyển bốn phương ngàn
    Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới ?
    Đâu những b́nh minh cây xanh nắng gội
    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng ?
    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật ?

    Dễ thấy đây là đoạn tuyệt bút của Nhớ rừng. Nhưng tôi chỉ muốn nói đến một khía cạnh của đoạn tuyệt bút kia, ấy lối tạo h́nh bằng thơ. Và cũng chỉ một khía cạnh tạo h́nh thôi, ấy là vẽ tranh tứ b́nh. Thực ra, tứ b́nh là một lối tạo h́nh quen thuộc từ cổ điển. Người xưa thường khái quát một hiện thực toàn vẹn nào đó vào bộ tranh gồm bốn bức. Cho nên tự thân tứ b́nh là một cấu trúc, một chỉnh thể, một thế giới. Thời gian th́ Xuân Hạ Thu Đông, thảo mộc th́ Tùng Trúc Cúc Mai, hay Mai Lan Cúc Trúc, nghề nghiệp th́ Ngư Tiều Canh Mục, tầng lớp th́ Sĩ Nông Công Thương, nghệ thú th́ Cầm Kỳ Thi Họa.v.v... Nảy sinh từ hội họa, về sau tứ b́nh xâm nhập vào nhiều nghệ thuật khác. Người đọc thơ có thể đơn cử ở Chinh phụ ngâm, những đoạn như nỗi nhớ chồng của nàng chinh phụ diễn ra trọn vẹn khi “trông bốn bề”, mỗi bề là một phía, một cung bậc, một nông nỗi của nhung nhớ. Tâm trạng buồn nản, hăi hùng của Thuư Kiều trước lầu Ngưng Bích cũng diễn thành tứ b́nh với điệp khúc “buồn trông”. Rồi ngay Tố Hữu cũng dùng đến tứ b́nh khi viết bài Việt Bắc ở đoạn “Ta về ta nhớ những hoa cùng người”... Vậy, dùng tứ b́nh th́ chưa phải là ǵ thật đáng nói. Đáng nói là: cả bốn bức tứ b́nh ở đây đều là những chân dung tự họa khác nhau của cùng một con hổ. Nó đă khái quát trọn vẹn về cái “thời oanh liệt” của chúa sơn lâm.

    * *
    *

    Bốn bức là bốn nỗi hoài niệm đầy tiếc nuối, uất hận.
    Đồng thời, là bốn câu hỏi mà giọng điệu càng lúc càng dữ dằn.
    Mỗi bức một khung cảnh, một gam màu, một dáng điệu của vị “chúa tể cả muôn loài”.
    Bức thứ nhất thật thi vị :

    Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối
    Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan?

    Gam màu vàng lóng lánh của ánh trăng in trên suối vắng. Đối với con hổ giờ đang bị giam cầm trong cũi sắt, đó không chỉ là những kỷ niệm lấp lóa trăng vàng, mà thực sự là những “đêm vàng” - những kỷ niệm được đúc bằng vàng ṛng - không bao giờ c̣n có lại. Chúa sơn lâm hiện ra như nhà thi sĩ của chốn lâm tuyền, với cử chỉ uống ánh trăng tan đầy thơ mộng. Chữ “say mồi” có thể làm người đọc lạc hướng, bởi tưởng rằng “mồi” đây hẳn là một con thú đáng thương nào đó. Không phải. Con mồi chính là con trăng vàng in bóng trong ḷng suối. Con mồi - cái đẹp, cái đẹp - con mồi một thân phận kép, đó là cảm nhận độc đáo của con hổ - thi sĩ này. Thế Lữ đă tỏ ra là người nhập được vào hổ, khi gửi vào mănh thú một mảnh hồn thi sĩ.

    Bức thứ hai, chúa sơn lâm hiện ra như một minh đế trước giang sơn của ḿnh :

    Đâu những chiều mưa chuyển bốn phương ngàn
    Ta lặng ngắm giang sơn ta đổi mới?

    Đêm trăng đă nhường chỗ cho chiều mưa. Gam vàng đă chuyển qua gam xám bạc điểm ánh tươi xanh. Đấng vương chủ của chốn rừng già đang phóng tầm mắt bao quát toàn cảnh vương quốc đương thay da đổi thịt dưới sự trị v́ của ḿnh. Trang nghiêm, ưu tư, và đầy kiêu hănh.

    Bức thứ ba, chiều mưa đă chuyển sang rạng đông, nền tranh đă rạng rỡ cái gam màu thắm nắng b́nh minh. Chúa sơn lâm hiện trong dáng điệu một lănh chúa cứ nghiễm nhiên ườn ḿnh trong giấc ngủ trễ tràng khi ngày đă lên mà thụ hưởng cái lạc thú cung - đ́nh - rừng - xanh của ḿnh:

    Đâu những b́nh minh cây xanh nắng gội
    Tiếng chim ca giấc ngủ ta tưng bừng?

    Hoàn toàn có thể h́nh dung cây xanh nắng gội là màn trướng, c̣n chim chóc như những bầy cung nữ đang hân hoan ca múa quanh giấc nồng của hổ vương chứ sao!

    Bộ tứ b́nh khép lại bằng bức cuối cùng, cũng là bức ấn tượng hơn cả :

    Đâu những chiều lênh láng máu sau rừng
    Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt
    Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật?

    Giọng điệu không c̣n là thở than, mà đă thành chất vấn đầy giận dữ và oai linh đối với quá khứ mà cũng là đối với hiện tại. Tương ứng với giọng điệu, chúa sơn lâm hiện ra cũng với một tư thế hoàn toàn khác: tư thế kiêu hùng của một bạo chúa. Nền cảnh thuộc gam màu máu. Mấy chữ “lênh láng máu” thật dễ sợ. Nó gợi ra cảnh tượng chiến trường sau một cuộc vật lộn tàn bạo. Là máu của con thú rừng xấu số nào đó chăng? Không! Đó là máu của mặt trời. Ánh tà dương lúc mặt trời hấp hối, dưới cái nh́n kiêu bạc của con mănh thú chính là sắc máu lênh láng đỏ. “Những chiều lênh láng máu” là máu mặt trời đă nhuộm cả thời gian. Máu đă trở thành màu kỷ niệm. Chữ “sau rừng” gợi được cái không gian đỏ máu của địch thủ mặt trời, vừa gợi được vẻ bí hiểm của chốn diễn ra cuộc tranh chấp đẫm máu. Chữ “chết” đă biến mặt trời từ vật thể thành sinh thể. Không c̣n là khối cầu lửa vô tri vô giác giữa không trung, mặt trời đă thành một con thú. Thậm chí, một con thú thảm hại - chữ “mảnh” là h́nh ảnh mặt trời trong con mắt ngạo mạn và khinh miệt của con hổ này. Vẻ “gay gắt” trong giờ phút hấp hối của con thú tử thương dường như càng làm cho nó bị khinh bỉ. Th́ ra, đối thủ của con hổ này không phải là loài gấu, loài báo vô tư lự dở hơi, đă đành. Mà ngay cả con người cũng không xứng là đối thủ của nó. Trong vũ trụ này chỉ có một kẻ duy nhất được chúa sơn lâm này xem là địch thủ mà thôi, ấy là vầng thái dương. Nhưng, cái đáng nói là: trong cuộc kịch chiến kia, phần thắng vẫn thuộc về nó, vị “chúa tể của muôn loài” ấy. Ba chữ “mảnh mặt trời” đă hoàn toàn hạ bệ, hạ gục đối thủ, khiến mặt trời cũng trở nên tầm thường. Bằng cuộc thư hùng bạo liệt với mặt trời để “chiếm lấy riêng phần bí mật”, Thế Lữ đă nâng con mănh thú này lên tầm vóc vũ trụ. Nó kỳ vĩ hơn cả những ǵ vốn kỳ vĩ nhất trong hoàn vũ. Đến câu “Ta đợi chết mảnh mặt trời gay gắt”, bức tứ b́nh cuối cùng dường như đă thể hiện được bàn chân ngạo nghễ siêu phàm của con thú như dẫm đạp lên bầu trời, cái bóng của nó cơ hồ đă trùm kín cả vũ trụ. C̣n tham vọng “Để ta chiếm lấy riêng phần bí mật”, th́ đă tỏ rơ cái oai linh của kẻ muốn thống trị cả vũ trụ này!

    Ghê gớm thật! Ngay đến mặt trời cũng trở nên tầm thường, th́ xem ra sự phi thường đă tới vô biên rồi vậy!
    Hồi tưởng phóng chiếu đă xong : thời oanh liệt của cái tôi - hùm thiêng đạt cực điểm !

    Một thi sĩ ŕnh trăng chốn lâm tuyền. Một vương chủ say ngắm giang sơn. Một lănh chúa rừng xanh giữa bầy ca điểu. Một bạo chúa ngạo mạn với mặt trời. Bốn kỷ niệm kiêu hùng, bốn khoảnh khắc hoành tráng!

    Bộ tứ b́nh hoàn tất!

    * *
    *

    Song, cả giọng điệu tráng ca hào hùng, cả bút pháp cường điệu khoa trương đặc thù của chủ nghĩa lăng mạn, cả lối tạo h́nh hoành tráng của hội họa sẽ trở nên chơi vơi, sáo rỗng nếu như đây không phải là chúa sơn lâm. Sự ăn nhập tuyệt vời giữa đối tượng và thi pháp đă chắp cánh cho thơ Thế Lữ bay lên, dơng dạc, đường hoàng như một khúc trường ca dữ dội!

    Bấy giờ, Thơ mới đang hối hả, đang ráo riết đi t́m cái tiết điệu của ḿnh. Th́ đến Nhớ rừng, tiết điệu cần t́m đă được Thế Lữ đem về. Công lớn ấy chẳng hổ danh là chúa sơn lâm! Chả thế mà Vũ Đ́nh Liên chỉ cần trích hai câu trong bài này đă dám cả quyết: chỉ hai câu Nào đâu những đêm vàng bên bờ suối / Ta say mồi đứng uống ánh trăng tan cũng có sức mạnh như một tuyên ngôn bênh vực cho Thơ mới.

    ________________________________________
    Chữ của Hoài Thanh trong Thi Nhân Việt Nam
    Nghiên cứu những trường phái thơ Pháp, dễ thấy rằng : nếu phái Tượng trưng nghiêng hẳn về nhạc, th́ phái Lăng mạn nghiêng hẳn về nghệ thuật tạo h́nh, nhất là hội hoạ.



    Keep your face to the sunshine and you cannot see the shadow.




    Trả lời với trích dẫn Trả lời với trích dẫn  

+ Trả lời

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh