share experienceshareexperiencememcachedmemcached
Trang 1/2 1 2 CuốiCuối
Hiện kết quả từ 1 tới 10 của 13

Chủ đề: Luật thi đấu và chiến thuật cơ bản môn bóng bàn

  1. #1
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Bài viết
    4.213
    Next Level: 1.787

    Luật thi đấu và chiến thuật cơ bản môn bóng bàn

    MỘT SỐ H̀NH ẢNH







    1. SƠ LƯỢC LỊCH SỬ MÔN BÓNG BÀN

    1. Nguồn gốc và sự phát triển.

    Bóng bàn là môn thể thao có lịch sử từ lâu đời và được rất nhiều người ưa thích. Về nguồn gốc của nó cho đến nay vẫn c̣n có nhiều quan điểm tranh luận rất khác nhau, song quan điểm nghiêng về môn bóng bàn xuất hiện sớm nhất tại đảo quốc sương mù.

    Vào khoảng 1890, một VĐV Anh quốc mang từ Mỹ về một một quả bóng được chế tạo bằng Xenlulo rỗng bên trong và dùng làm bóng đánh trên bàn. Do loại bóng này có độ nảy lớn, khi đánh xuống bàn phát ra tiếng kêu “ping,pông...”nên có người đặt tên cho nó là “bóng ping pông”.

    Đầu thế kỷ 20, môn bóng bàn được phát triển ở trung Âu và một số quốc gia khác ở châu Á, đặc biệt là Nhật Bản. Tiếp đó lan sang các nước ở châu Phi, châu Mỹ.... làm cho môn thể thao này phát triển mạnh trên phạm vi toàn Thế giới.

    2. Sự thành lập liên đoàn bóng bàn Thế giới

    Sau đại chiến TG lần thứ nhất 1918 các cuộc thi đấu và giao lưu môn bóng bàn ngày một tăng. Các dụng cụ bóng bàn ngày càng đổi mới làm cho kỹ thuật BB có cơ hội tiến bộ nhanh chóng. Trong bối cảnh như vậy cần thiết phải thành lập một tổ chức thể thao thống nhất mang tính Quốc tế để thuận tiện cho việc giao lưu rộng răi và chính quy trên toàn Thế giới.

    Với sự khởi xướng và vận động của Anh quốc và một số Quốc gia châu Âu khác, đến 12-1926 tại Luânđôn đă khai mạc Đại hội Liên đoàn BB Quốc tế lần I. Đại hôi đă thông qua nghị quyết và chương tŕnh chính thức thành lập Liên đoàn các hội bóng bàn Quốc tế _ gọi tắt là Liên đoàn BB Quốc tế ITTF.

    3. Các giai đoạn phát triển.

    Nếu cuối thế kỷ 19 môn BB mới chỉ dừng lại ở một tṛ chơi giải trí th́ đến thế kỷ 20 đă dần trơt thành một môn thể thao được thi đấu theo luật quy định.
    Từ cuộc thi Vô địch BB Thế giới tổ chức 1926 đến nay sự phát triển của môn BB có thể tóm tắt như sau:

    1. Thời kỳ châu Âu độc tôn.

    BB bắt nguồn từ châu Âu rồi lan truyền khắp thế giới th́ việc trước những năm 50 của thế kỷ 20 các VĐV châu Âu hầu như làm mưa làm gió trên các giải BB thế giới, giành phần lớn ngôi vị quán quân là điều dễ hiểu.

    Năm 1902, người Mỹ phát minh ra mặt vợt cao su đă làm thay đổi phần lớn kỹ chiến thuật trong BB, do mặt cao su có độ đàn hồi, độ ma sát tốt hơn so với mặt vợt gỗ đă tạo ra sự thay đổi về độ xoáy và một số cách đánh mới.

    Thời kỳ này, tư tưởng chủ đạo về kỹ chiến thuật của các VĐV là coi trọng pḥng thủ, coi nhẹ tấn công, lấy pḥng thủ chắc chắn làm nguyên tắc cơ bản, làm cho trận đấu kéo dài vô nghĩa, mât hứng thú của khán giả.

    Để thay đổi t́nh trạng này, ITTF đă quyết định sửa đổi luật: tăng chiều rộng bàn bóng, hạ thấp chiều cao lưới, quy định thời gian thi đấu của mỗi ván đấu...

    Biện pháp này đă cổ vũ và phát huy được lối đánh tấn công đẹp mắt, tăng nhanh nhịp độ thi đấu và trong chừng mực nào đó đă hạn chế được cách đánh pḥng thủ tiêu cực.

    2. Sự đột phá của Nhật Bản.

    Đầu những năm 50 của thế kỷ 20, người ta đă cải tiến vợt và sử dụng mặt vợt mút xốp. Loại vợt này mặt vợt có tính đàn hồi và phản lực tốt, tốc độ bóng đánh đi tăng lên thuận lợi cho cách đánh tấn công. Năm 1952 lần đầu tiên VĐV Nhật Bản đă sử dụng loại vợt này trong thi đấu giải Vô địch Thế giới với cách đánh vụt bóng xa bàn kết hợp với di chuyển nhanh đă dễ dàng giành được 4 HCV và chuyển ưu thế môn BB về với châu Á.

    3. Sự bung nổ của Trung Quốc.

    Đầu những năm 50 của thế kỷ 20 Trung Quốc đă tham gia một số cuộc giải thi đấu lớn của Thế Giới. Nhờ việc tổng kết, tích lũy kinh nghiệm, nghiêm túc huấn luyện kỹ thuật cơ bản và thể lực nên tŕnh độ các VĐV bóng bàn của họ nhanh chóng tiến bộ vượt bậc.

    Năm 1959 TQ giành đựoc chức VĐ đơn nam Thế giới.

    Năm 1961 họ giành chức VĐ đồng đọi nam.

    Trong 3 giải Vô địch BB Thế giới liên tiếp: 26,27,28 các VĐV Trung Quốc giành được hơn nửa trên tổng số HCV.

    Trong thi đấu Quốc tế, Trung Quốc giành ưu thế áp đảo và hiện nay họ đă trở thành một cường quốc Bóng bàn được cả Thế giới thừa nhận.

    4. Cục diện đối kháng giữa châu Âu và châu Á.

    Bước vào thập kỷ 70, các VĐV châu Âu qua nhiều năm thăm ḍ, t́m kiếm đă sáng tạo ra 2 cách đánh tiên tiến là: Lấy tấn công nhanh là chính kết hợp với cắt bóng và cách đánh lấy cắt bóng là chính kết hợp với tấn công nhanh. Kết hợp chặt chẽ độ xoáy với tốc độ, đồng thời sử dụng cách đánh tấn công gần bàn.

    Sự học hỏi, giao lưu lẫn nhau giữa châu Âu và châu Á làm cho kỹ chiến thuật của môn BB đạt được tŕnh độ cao mới và ngày càng hoàn thiện.

    Hiện nay các nước như Thụy Điển, Hungari, Croatia, Nga, Đức, Áo... của châu Âu và các nước như Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Triều Tiên,... (và cả Việt Nam!!!!) của châu Á tŕnh độ thực lực tương đương nhau. Do đó trong những trận đấu quan trọng rất khó đoán được ai thắng thua, và sự cạnh tranh giữa 2 châu lục càng trở nên gay gắt hơn bao giờ hết.

    2. LUẬT BÓNG BÀN



    2.1 BÀN

    2.1.1 Phần mặt trên của bàn gọi là mặt đánh bóng (mặt bàn) h́nh chữ nhật dài 2.74m, rộng 1.525m, đặt trên một mặt phẳng nằm ngang cao 76cm tính từ mặt đất.
    2.1.2 Mặt bàn không bao gồm các cạnh bên của mặt bàn.
    2.1.3 Mặt bàn có thể làm bằng bất cứ chất liệu nào và phải có một độ nẩy đồng đều khoảng 23cm khi để quả bóng tiêu chuẩn rơi từ độ cao 30cm xuống mặt bàn đó.
    2.1.4 Mặt bàn phải có mầu sẫm đồng đều và mờ, xung quanh mặt bàn có một đường vạch kẻ trắng rộng 2cm, mỗi vạch theo chiều dài 2,74m của bàn gọi là đường biên dọc, mỗi vạch theo chiều rộng 1.525m của bàn gọi là đường biên ngang (đường cuối bàn).
    2.1.5 Mặt bàn được chia thành 2 phần bằng nhau bởi một cái lưới thẳng đứng song song với đường cuối bàn và căng suốt trên toàn bộ diện chia đôi hai bên phần bàn.
    2.1.6 Để đánh đôi, mỗi phần mặt bàn lại chia thành 2 phần nhỏ bằng nhau bởi một đường vạch giữa màu trắng rộng 3mm song song với các đường biên dọc. Đường vạch giữa được coi như thuộc về phần bên phải của mỗi nửa bàn.

    2.2 BỘ PHẬN LƯỚI

    2.2.1 Bộ phận lưới gồm có lưới, dây căng và các cọc lưới, bao gồm cả các cái kẹp để cặp cọc lưới vào bàn.
    2.2.2 Lưới được căng bằng một sợi dây nhỏ, buộc mỗi đầu vào cọc lưới có chiều cao 15.25cm. Khoảng cách giới hạn ngoài đường biên dọc với cột cọc lưới là 15.25cm.
    2.2.3 Mép trên của lưới suốt chiều dài phải cao đủ 15.25cm so với mặt bàn.
    2.2.4 Mép dưới suốt chiều dài của lưới cần phải sát với mặt bàn và những cạnh bên của lưới cũng cần phải sát với cọc lưới.

    2.3 BÓNG

    2.3.1 Quả bóng h́nh cầu có đường kính 40mm.
    2.3.2 Quả bóng nặng 2,7g.
    2.3.3 Quả bóng được làm bằng xen-lu-lô-ít hoặc chất nhựa dẻo tương tự, có mầu trắng hay màu da cam và mờ.

    2.4 VỢT

    2.4.1 Vợt có thể có kích thước, h́nh dáng và trọng lượng bất kỳ nhưng cốt vợt phải phẳng và cứng.
    2.4.2 Ít nhất 85% bề dầy cốt vợt phải bằng gỗ tự nhiên; một lớp dính bên trong cốt vợt có thể được tăng cường bằng loại chất sợi như sợi các bon, sợi thủy tinh hay giấy nén nhưng không được vượt quá 7,5% toàn bộ bề dày hoặc 0,35mm.
    2.4.3 Mặt của cốt vợt dùng để đánh bóng phải được phủ hoặc bằng mặt gai cao su thường, gai hướng ra ngoài, tất cả độ dầy kể cả chất dính không vượt quá 2mm, hoặc bằng cao su mút với gai úp hay gai ngửa, tất cả có độ dầy kể cả chất dính không vượt quá 4mm.
    2.4.3.1 Cao su thường có gai là một lớp duy nhất bằng cao su, không lỗ tổ ong, tự nhiên hoặc tổng hợp, các hạt gai rải rộng đều trên mặt vợt với mật độ không ít hơn 10 và không quá 30 gai/cm2;
    2.4.3.2 Cao su mút là một lớp dày duy nhất cao su tổ ong, phủ một lớp ở phía ngoài bằng cao su thường có gai, bề dầy của lớp cao su có gai không vượt quá 2mm.
    2.4.4 Chất liệu phủ phải kéo ra tới các mép nhưng không được vượt quá các giới hạn của cốt vợt, trừ phần gần cán nhất và chỗ đặt các ngón tay có thể để không hoặc phủ bằng một chất liệu nào đó.
    2.4.5 Cốt vợt cũng như bất kỳ lớp nào bên trong cốt vợt và lớp phủ bên ngoài hoặc dán trên mặt dùng để đánh bóng phải liên tục và có độ dầy đồng đều.
    2.4.6 Mặt phủ cốt vợt hoặc mặt cốt vợt không phủ phải mờ, một mặt là mầu đỏ tươi và mặt kia là mầu đen.
    2.4.7 Những sai lệch nhỏ về sự liên tục của mặt vợt hoặc sự đồng đều về mầu sắc do sự cố bất thường hay do hao ṃn th́ có thể chiếu cố miễn là những điều đó không làm thay đổi đáng kể đến đặc điểm của mặt vợt.
    2.4.8 Trước lúc bắt đầu trận đấu hay khi thay vợt trong trận đấu, đấu thủ sẽ đưa vợt mà ḿnh sử dụng cho đối phương và trọng tài xem và kiểm tra.

    2.5 CÁC ĐỊNH NGHĨA

    2.5.1 Một loạt đường bóng đánh qua lại là giai đoạn lúc bóng đang c̣n ở trong cuộc.
    2.5.2 Bóng ở trong cuộc được tính từ thời điểm cuối cùng khi bóng nằm yên trong ḷng bàn tay tự do (tay không cầm vợt) trước khi được tung có chủ ư lên lúc giao bóng cho đến khi loạt đường bóng đánh qua lại được quyết định là đánh lại hay tính 1 điểm.
    2.5.3 Lần đánh bóng lại là một loạt đường bóng đánh qua lại mà kết quả của nó không được tính điểm.
    2.5.4 Một điểm là một loạt đường bóng đánh qua lại kết quả của nó được tính điểm.
    2.5.5 Tay cầm vợt là tay đang cầm chiếc vợt.
    2.5.6 Tay tự do là tay đang không cầm vợt.
    2.5.7 Một đấu thủ đánh quả bóng nếu như trong cuộc người đó chạm vào bóng bằng vợt của ḿnh cầm trong tay hay dưới cổ tay cầm vợt.
    2.5.8 Một đấu thủ cản quả bóng nếu bản thân người đó hay bất cứ vật ǵ mang trên người mà chạm vào quả bóng trong lúc bóng c̣n đang ở trong cuộc khi nó đang đi về phía mặt bàn và chưa vượt qua đường biên cuối, chưa chạm vào mặt bàn bên ḿnh từ lúc đối phương đánh sang.
    2.5.9 Người giao bóng là người đánh quả bóng đầu tiên trong mỗi loạt đường bóng qua lại.
    2.5.10 Người đỡ giao bóng là người đánh quả bóng thứ hai của mỗi loạt đường bóng qua lại.
    2.5.11 Trọng tài là người được chỉ định để điều khiển một trận đấu.
    2.5.12 Người phụ tá trọng tài là người được chỉ định giúp trọng tài trong một số phán quyết nhất định.
    2.5.13 Nói bất cứ vật ǵ đấu thủ mặc hoặc mang là bất cứ vật ǵ đấu thủ đang mặc hoặc đang mang khác ngoài quả bóng, ở lúc bắt đầu của lần đánh bóng.
    2.5.14 Quả bóng được coi như vượt qua hoặc ṿng qua bộ phận của lưới nếu nó đi qua bất cứ chỗ nào ngoại trừ phần giữa lưới và cọc lưới hoặc giữa lưới và mặt trên của bàn.
    2.5.15 Đường cuối bàn sẽ được coi như kéo dài vô hạn ở cả hai phía.

    2.6 QUẢ GIAO BÓNG TỐT

    2.6.1 Lúc bắt đầu giao bóng quả bóng được đặt nằm im trên ḷng bàn tay mở phẳng của tay không cầm vợt của người giao bóng.
    2.6.2 Người giao bóng tung lên theo phương thẳng đứng, cao ít nhất 16cm, không được tạo ra bóng xoáy và không được chạm bất cứ một vật ǵ trước khi được đánh đi.
    2.6.3 Khi quả bóng rơi xuống, người giao bóng sẽ đánh quả bóng đó sao cho bóng chạm bên mặt bàn ḿnh trước và sau đó mới nẩy qua lưới hoặc ṿng qua các bộ phận của lưới, chạm trực tiếp vào bên mặt bàn người đỡ giao bóng; Trong đánh đôi bóng phải chạm liên tiếp từ nửa mặt bàn bên phải của người giao bóng sang nửa mặt bàn bên phải của người đỡ giao bóng.
    2.6.4 Từ khi bắt đầu quả giao bóng đến khi bóng được đánh đi, quả bóng phải ở phía trên mặt bàn và đằng sau đường biên cuối bàn của người giao bóng và bóng không được che khuất tầm nh́n của người đỡ giao bóng bằng bất kỳ một bộ phận nào trên cơ thể hoặc áo quần của người giao bóng hoặc của người cùng đánh đôi với đấu thủ này. Ngay sau khi quả bóng đă được đánh đi, cánh tay tự do của người giao bóng phải rời khỏi khoảng không gian giữa cơ thể của người giao bóng và lưới.
    2.6.5 Trách nhiệm của người giao bóng là làm sao cho trọng tài hoặc trợ lư trọng tài thấy được là ḿnh đă tuân thủ những yêu cầu đối với quả giao bóng tốt.
    2.6.5.1 Nếu trọng tài thấy nghi ngờ tính hợp lệ (không đúng luật) của quả giao bóng, đối với lần đầu tiên của một trận đấu th́ tuyên bố đánh bóng lại và nhắc nhở người giao bóng;
    2.6.5.2 Nếu tiếp tục trong trận đấu quả giao bóng của đấu thủ đó hoặc người cùng đánh đôi với anh ta (chị ta) bị nghi ngờ về tính hợp lệ, th́ người đỡ giao bóng sẽ được 1 điểm.
    2.6.5.3 Bất cứ khi nào có sự không tuân thủ rơ rệt các yêu cầu của quả giao bóng tốt, th́ sẽ không cảnh cáo và người đỡ giao bóng sẽ được 1 điểm.
    2.6.6 Trường hợp khác thường, trọng tài có thể nới lỏng những yêu cầu đối với một quả giao bóng tốt th́ trọng tài được xác định rằng việc tuân theo những yêu cầu đó bị hạn chế do khuyết tật cơ thể của đấu thủ.

    2.7 QUẢ BÓNG TRẢ LẠI TỐT

    Quả bóng được giao hay đỡ trả lại, đều phải đánh sao cho bóng vượt qua hoặc ṿng qua bộ phận lưới và chạm trực tiếp phần bàn đối phương hay sau khi chạm vào bộ phận của lưới.

    2.8 TR̀NH TỰ THI ĐẤU

    2.8.1 Trong đánh đơn, người giao bóng đầu tiên thực hiện quả giao bóng tốt, sau đó người đỡ giao bóng sẽ trả lại bóng tốt và từ đó người giao bóng và người đỡ giao bóng luân phiên trả lại bóng tốt.
    2.8.2 Trong đánh đôi, người giao bóng đầu tiên thực hiện quả giao bóng tốt, sau đó người đỡ giao bóng trả lại bóng tốt, rồi tới đồng đội của người giao bóng trả lại bóng tốt, kế tiếp đồng đội của người đỡ giao bóng trả lại bóng tốt và từ đó mỗi đấu thủ luân phiên nhau theo thứ tự trên mà trả lại bóng tốt.

    2.9 BÓNG ĐÁNH LẠI

    2.9.1 Loạt đường bóng đánh sẽ đánh lại.
    2.9.1.1 Nếu khi giao bóng lúc vượt qua bộ phận lưới mà bóng chạm vào bộ phận lưới với điều kiện là quả giao bóng tốt hoặc bóng bị chạm chắn bởi người đỡ giao bóng hay đồng đội của người này;
    2.9.1.2 Nếu bóng đă được giao đi khi người đỡ giao bóng hoặc cặp người đỡ chưa sẵn sàng với điều kiện là cả người đỡ hoặc đồng đội của người này chưa có ư định đỡ bóng;
    2.9.1.3 Nếu bóng không được giao tốt, hoặc trả lại tốt, hoặc không đúng luật do điều gây phiền nhiễu ngoài phạm vi kiểm soát của đối thủ;
    2.9.1.4 Nếu trận đấu được tạm ngừng bởi trọng tài hay trợ lư trọng tài.
    2.9.2 Trận đấu có thể bị tạm ngừng
    2.9.2.1 Để sửa một điều sai về thứ tự giao bóng, đỡ giao bóng hoặc phía bàn đứng;
    2.9.2.2 Để bắt đầu áp dụng phương pháp đánh khẩn trương;
    2.9.2.3 Để cảnh cáo hoặc phạt một đấu thủ;
    2.9.2.4 Do những điều kiện thi đấu bị xáo lộn trong một chừng mực nào đấy có thể ảnh hưởng tới kết quả của lần đánh bóng.

    2.10 MỘT ĐIỂM

    2.10.1 Trừ khi là quả đánh lại, một đấu thủ sẽ được t?nh 1 điểm.
    2.10.1.1 Nếu đối phương không giao bóng tốt;
    2.10.1.2 Nếu đối phương không trả lại bóng tốt.
    2.10.1.3 Nếu sau khi vận động viên đă thực hiện một quả giao bóng tốt hay trả lại bóng tốt quả bóng chạm vào bất kỳ vật ǵ ngoại trừ bộ phận lưới trước khi được đối phương đánh đi.
    2.10.1.4. Nếu sau khi đối thủ đánh bóng bay qua phần bàn ḿnh hay vượt quá đường cuối bàn mà bóng không chạm vào phần bàn của ḿnh;
    2.10.1.5 Nếu đối thủ cản bóng;
    2.10.1.6 Nếu đối thủ đánh bóng liên tiếp 2 lần;
    2.10.1.7 Nếu đối thủ đánh bóng bằng một mặt cốt vợt mà mặt này không tuân theo đúng với những yêu cầu của Điều 2.3.4, 2.4.4 và 2.4.5;
    2.10.1.8 Nếu đối thủ cùng bên hoặc bất cứ vật ǵ mà người đó mặc hay mang trên người làm xê dịch mặt bàn đấu;
    2.10.1.9 Nếu đối thủ cùng bên hoặc bất cứ vật ǵ người đó mặc hay mang trên người chạm vào bộ phận lưới;
    2.10.1.10 Nếu bàn tay không cầm vợt của đối thủ chạm vào mặt bàn đấu;
    2.10.1.11 Nếu đôi đối phương đánh bóng sai tŕnh tự đă được xác định bởi người giao bóng đầu tiên và người đỡ giao bóng đầu tiên;
    2.10.1.12 Như điều kiện đă quy định ở phương pháp đánh khẩn trương (2.15.2)

    2.11 MỘT VÁN

    2.11.1 Một đấu thủ hay cặp đánh đôi được tính là thắng một ván khi họ được 11 điểm trước trừ khi 2 đấu thủ hay 2 cặp đôi đều đạt mỗi bên 10 điểm th́ sau đó bên nào thắng liên 2 điểm trước nữa là thắng ván đó.

    2.12 MỘT TRẬN

    2.12.1 Một trận sẽ gồm các ván thắng của một số lẻ nào đó

    2.13 CHỌN GIAO BÓNG, ĐỠ GIAO BÓNG VÀ BÊN BÀN ĐỨNG

    2.13.1 Quyền chọn giao bóng, đỡ giao bóng và bên bàn đứng trước sẽ được xác định bằng cách rút thăm. Người trúng thăm có thể chọn giao bóng hay đỡ giao bóng trước hoặc chọn bên bàn đứng lúc bắt đầu trận đấu.
    2.13.2 Khi một đấu thủ hay một đôi đă chọn giao bóng hoặc đỡ giao bóng trước hoặc chọn bên bàn đứng lúc bắt đầu của trận đấu th́ đối phương sẽ được quyền chọn cái khác.
    2.13.3 Cứ sau 2 điểm đă được ghi th́ đấu thủ hay cặp đôi đỡ giao bóng sẽ trở thành đấu thủ hay cặp đôi giao bóng và cứ như thế tiếp tục cho đến hết ván, trừ khi cả 2 đấu thủ hay hai đôi đều đạt được 10 điểm hoặc áp dụng phương pháp đánh khẩn trương th́ thứ tự giao bóng và đỡ giao bóng vẫn như vậy song mỗi đấu thủ chỉ giao bóng lần lượt cho 1 điểm.
    2.13.4 Trong mỗi ván của trận đánh đôi, đôi có quyền giao bóng trước sẽ chọn người nào của đôi ḿnh giao bóng trước ở ván đầu tiên của trận đôi bên đỡ giao bóng sẽ quyết định ai là người sẽ đỡ giao bóng trước. Trong các ván tiếp theo của trận đấu, đấu thủ giao bóng trước tiên đă được lựa chọn, người đỡ giao bóng trước tiên sẽ là người đă giao bóng cho đấu thủ này ở ván trước đó.
    2.13.5 Trong đánh đôi, ở mỗi lần đổi giao bóng đấu thủ đỡ giao bóng trước đó sẽ trở thành người giao bóng và đồng đội của người giao bóng trước đó sẽ là người đỡ giao bóng.
    2.13.6 Đấu thủ hoặc cặp đôi giao bóng đầu tiên trong một trận đấu sẽ đỡ giao bóng đầu tiên ở ván sau và ở ván cuối cùng của trận đánh đôi có khả năng xẩy ra th́ cặp đôi của bên đến lượt đỡ giao bóng lần tới sẽ đổi thứ tự đỡ giao bóng khi một đôi nào đó đă đạt được 5 điểm.
    2.13.7 Đấu thủ hay cặp đôi bắt đầu đứng ở phía bàn bên này của một ván th́ ở ván sau sẽ bắt đầu đứng ở phía bàn bên kia và ở ván cuối cùng của trận đấu (có khả năng xẩy ra) th́ đấu thủ hay cặp đôi sẽ thay đổi bên bàn đứng khi một đấu thủ hay cặp đôi nào đó đạt được 5 điểm.

    2.14 SAI THỨ TỰ GIAO BÓNG, ĐỠ GIAO BÓNG VÀ BÊN BÀN ĐÚNG

    2.14.1 Nếu một đấu thủ giao bóng hoặc đỡ giao bóng không đúng lượt của ḿnh, trọng tài dừng ngay trận đấu khi phát hiện sai phạm và cho tiếp tục trận đấu với tỷ số đă đạt được mà người giao bóng và đỡ giao bóng phải theo đúng thứ tự như đă được xác định lúc bắt đầu trận đấu và trong đấu đôi thứ tự giao bóng được chọn bởi đôi có quyền giao bóng đầu tiên trong ván đă phát hiện ra sai lầm.
    2.14.2 Nếu đấu thủ không đổi phía bên bàn đứng mà đúng ra họ phải đổi, trọng tài dừng ngay trận đấu khi phát hiện ra lỗi sai này và cho tiếp tục trận đấu với tỷ số đă đạt được theo đúng phía bên bàn đứng như đă được xác định khi bắt đầu trận đấu.
    2.14.3 Trong bất kỳ trường hợp nào, tất cả những điểm đă đạt được trước khi phát hiện sai lầm đều vẫn được tính.

    2.15 PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH KHẨN TRƯƠNG

    2.15.1 Phương pháp đánh khẩn trương sẽ được áp dụng nếu khi đă thi đấu hết 10 phút mà chưa kết thúc xong một ván, ngoại trừ cả hai đấu thủ hay hai đôi đấu thủ đă đạt được ít ra tới 9 điểm hoặc là ở bất kỳ thời điểm nào sớm hơn theo yêu cầu của hai đấu thủ hay hai đôi đấu thủ.
    2.15.1.1 Nếu bóng đang ở trong cuộc mà đă đến thời gian giới hạn th́ trọng tài dừng trận đấu và trận đấu sẽ được tiếp tục với quả giao bóng bởi đấu thủ đă giao bóng của lần đánh bóng mà đă bị dừng lại;
    2.15.1.2 Nếu bóng không ở trong cuộc khi đến thời gian giới hạn th́ trận đấu sẽ tiếp tục với quả giao bóng thuộc về đấu thủ đỡ giao bóng ngay tức th́ sau lần đánh bóng qua lại trước đó.
    2.15.2 Sau đó mỗi đấu thủ sẽ luân phiên giao bóng cho từng điểm một và nếu đấu thủ hay cặp đôi đỡ trả bóng tốt 13 lần th́ bên đỡ giao bóng sẽ được tính 1 điểm.
    2.15.3 Một khi đă được áp dụng th́ phương pháp đánh khẩn trương sẽ vẫn được dùng cho đến cuối trận đấu.

    3. NHỮNG QUY ĐỊNH ĐỐI VỚI CÁC CUỘC THI ĐẤU QUỐC TẾ

    3.1. PHẠM VI CỦA CÁC ĐIỀU LUẬT VÀ CÁC QUI ĐỊNH

    3.1.1. Các loại cuộc thi đấu
    3.1.1.1 Một cuộc thi quốc tế là cuộc thi đấu có thể bao gồm các đấu thủ của nhiều hơn một Liên đoàn.
    3.1.1.2 Một trận đấu quốc tế là một trận đấu giữa các đội đại diện của các Liên đoàn.
    3.1.1.3. Một giải thi đấu mở rộng là một giải thi đấu cho tất cả đấu thủ của các Liên đoàn tham gia.
    3.1.1.4 Một giải thi đấu có giới hạn là một giải thi đấu hạn chế cho những đấu thủ trong các nhóm đă định rơ ngoài các nhóm theo tuổi.
    3.1.1.5 Một giải mời là một giải thi đấu hạn chế cho những đấu thủ đă được định rơ mời riêng từng người.
    3.1.2 Phạm vi áp dụng
    3.1.2.1 Trừ qui định đă ghi ở điều 3.1.2.2. Các điều luật (luật Bóng bàn) sẽ áp dụng cho các cuộc thi đấu Vô địch thế giới, Châu lục, Olympic, các giải mở rộng và trừ khi trái ngược đă được các Liên đoàn tham gia đồng ư, đối với các trận đấu quốc tế.
    3.1.2.2 Ban chấp hành có quyền cho phép người tổ chức một giải thi đấu mở rộng chấp thuận thử nghiệm những sự thay đổi luật đă được Ban thường vụ qui định.
    3.1.2.3 Những qui định đối với các Cuộc thi Quốc tế sẽ áp dụng cho
    3.1.2.3.1 Các cuộc thi Vô địch Thế giới và Olympic, trừ khi trái ngược đă được Ban chấp hành cho phép và báo trước cho các Liên đoàn tham dự;
    3.1.2.3.2 Các cuộc thi vô địch Châu lục, trừ khi trái ngược đă được Liên đoàn Châu lục cho phép và báo trước cho các Liên đoàn tham dự;
    3.1.2.3.3 Các giải quốc tế mở rộng, trừ khi trái ngược đă được Ban thường vụ cho phép và báo trước cho những người tham dự theo như Điều 3.1.2.4;
    3.1.2.3.4 Các giải thi đấu mở rộng, ngoại trừ qui định như ở Điều 3.1.2.4;
    3.1.2.4 Trường hợp một giải thi đấu mở rộng không phù hợp với bất kỳ một điểm nào đó của những điều qui định này th́ tính chất và phạm vi thay đổi sẽ được ghi rơ trong mẫu đơn đăng kư; sự hoàn tất và nộp bản đăng kư sẽ được xem như biểu hiện chấp thuận các điều kiện của cuộc thi đấu bao gồm cả những thay đổi đó.
    3.1.2.5 Nên áp dụng các điều luật và những qui định đối với tất cả các cuộc thi đấu quốc tế, tuy nhiên các điều kiện là phải tuân thủ hiến chương; các cuộc thi đấu quốc tế hạn chế, các giải mời và các cuộc thi được công nhận là thi đấu quốc tế do những người chưa gia nhập Liên đoàn tổ chức có thể tiến hành theo những qui tắc của cơ quan tổ chức có thẩm quyền đặt ra.
    3.1.2.6 Các điều luật và những qui định cho các cuộc Thi đấu Quốc tế coi như đều được áp dụng trừ khi những thay đổi đă được đồng ư trước hay được công bố rơ trong điều lệ của cuộc thi đấu.
    3.1.2.7 Những giải thích chi tiết và những điều diễn dịch về những qui định bao gồm những đặc tính của các trang thiết bị sẽ được xuất bản như là các Tờ Kỹ thuật được Ban chấp hành cho phép và trong những sách Hướng dẫn dùng cho các nhân viên trận đấu và các Tổng trọng tài của giải.

    3.2 TRANG BỊ DỤNG CỤ VÀ NHỮNG ĐIỀU KIỆN THI ĐẤU

    3.2.1 Trang bị dụng cụ được chấp thuận và phê chuẩn
    3.2.1.1 Trang bị dụng cụ thi đấu được chấp thuận và phê chuẩn sẽ do Uỷ ban trang bị dụng cụ thay mặt Ban chấp hành điều khiển; sự chấp thuận hay sự được phép có thể bị Ban chấp hành rút lại bất kỳ lúc nào nếu việc tiếp tục thực hiện nó thấy sẽ phương hại cho cuộc thi;
    3.2.1.2 Mẫu đăng kư hay điều lệ đối với mỗi giải thi đấu mở rộng sẽ ghi rơ những nhăn hiệu và các mầu sắc của bàn, bộ phận lưới và bóng sẽ dùng cho cuộc thi đấu đó; việc chọn trang bị dụng cụ sẽ do Liên đoàn trên lănh thổ tổ chức cuộc thi chọn lựa từ những nhăn hiệu và chủng loại đang được Liên đoàn bóng bàn thế giới chấp nhận;
    3.2.1.3 Lớp phủ mặt vợt trên mặt cốt vợt dùng để đánh bóng sẽ là nhăn hiệu và loại đang được Liên đoàn bóng bàn thế giới phê chuẩn và sẽ dán vào cốt vợt sao cho nhăn hiệu thương mại và biểu tượng của Liên đoàn được trông thấy rơ ràng ở gần cạnh cuối của bề mặt đánh bóng.
    Tiêu chuẩn kỹ thuật của tất cả các thiết bị dụng cụ và các chất liệu được xác nhận bởi Liên đoàn bóng bàn thế giới và chi tiết được công bố trên trang Web của ITTF được chấp nhận và phê chuẩn.
    3.2.3 Điều kiện thi đấu
    3.2.3.1 Không gian nơi thi đấu không dưới 14m chiều dài, 7m chiều rộng và 5m chiều cao.
    3.2.3.2 Diện tích thi đấu được quây chung quanh bằng các tấm chắn có cùng nền màu xẫm cao khoảng 75cm để ngăn cách nó với những diện tích thi đấu gần kề và khán giả.
    3.2.3.3 Trong những cuộc thi đấu Thế giới và Olympic cường độ ánh sáng đo ở độ cao của mặt bàn ít nhất là 1000 lux đồng đêù trên toàn diện tích của mặt bàn và không ít hơn 500lux ở bất lỳ chỗ nào của diện tích thi đấu. Với những cuộc thi đấu khác th́ ít nhất là 600lux đồng đều ở mặt bàn và không dưới 400 lux ở bất kỳ chỗ nào của diện tích thi đấu.
    3.2.3.4 Nơi mà cùng sử dụng một số bàn th́ mức độ ánh sáng phải cùng như nhau cho tất cả các bàn đó và mức độ ánh sáng của hậu cảnh nhà thi đấu sẽ không được lớn hơn mức độ thấp nhất của diện tích thi đấu
    3.2.3.5 Nguồn ánh sáng không được thấp hơn 5m so với mặt sàn.
    3.2.3.6 Nói chung hậu cảnh phải tối và không có những nguồn sáng chói cũng như ánh sáng ban ngày chiếu qua những cửa số không che hay những lỗ hở vết nứt khác.
    3.2.3.7 Sàn không phải là mầu sáng phản chiếu sáng hay trơn và mặt sàn không phải làm bằng gạch, gốm, bê tông hay đá; ở giải Vô địch thế giới và Olympic sàn nhà là sàn gỗ hay thảm cuộn bằng vật liệu tổng hợp có nhăn hiệu và chủng loại được Liên đoàn bóng bàn thế giới phê chuẩn.

    3.3 QUYỀN HẠN CỦA CÁC NHÂN VIÊN
    3.3.1 Tổng trọng tài
    3.3.1.1 Đối với mỗi cuộc thi đấu nói chung phải bổ nhiệm một tổng trọng tài, chức năng, quyền hạn và vị trí (chỗ làm việc) của tổng trọng tài được báo cho những người tham sự và thích hợp th́ báo cho các đội trưởng.
    3.3.1.2 Tổng trọng tài có trách nhiệm
    3.3.1.2.1 Điều hành rút thăm thi đấu;
    3.3.1.2.2 Sắp xếp lịch tŕnh của các trận đấu theo thời gian và bàn;
    3.3.1.2.3 Chỉ định các trọng tài và nhân viên của các trận đấu;
    3.3.1.2.4 Phổ biến sự triển khai phương án cho các trọng tài và các nhân viên của trận đấu trước cuộc thi đấu;
    3.3.1.2.5 Kiểm tra tư cách dự thi của các đấu thủ;
    3.3.1.2.6 Quyết định có cho dừng trận đấu trong t́nh trạng cấp thiết hay không
    3.3.1.2.7 Quyết định có cho phép đối thủ rời khu vực thi đấu trong một trận đấu hay không;
    3.3.1.2.8 Quyết định có cho phép kéo dài thời gian đánh thử theo luật định hay không;
    3.3.1.2.9 Quyết định có cho phép các đấu thủ mặc quần áo dài bên ngoài ở một trận đấu hay không;
    3.3.1.2.10 Quyết định bất cứ vấn đề nào giải thích các điều luật và các quy định bao gồm cả việc chấp thuận đối với quần áo, dụng cụ và điều kiện thi đấu;
    3.3.1.2.11 Quyết định có được phép và các đấu thủ có thể tập dượt ở đâu trong t́nh trạng cấp thiết dừng trận đấu;
    3.3.1.2.12 Thực hiện các biện pháp kỷ luật hành vi xấu hoặc các vi phạm khác đối với các quy định.
    3.3.1.3 Khi, với sự đồng ư của ban điều hành cuộc thi, một số nhiệm vụ của tổng trọng tài sẽ được giao cho những người khác, những trách nhiệm cụ thể rành mạch và những vị trí (chỗ làm việc) của từng người trong số họ cần được báo cho những người tham dự, thuận tiện th́ báo cho các đội trưởng.
    3.3.1.4 Tổng trọng tài hay người có trách nhiệm đại diện cho tổng trọng tài khi vắng mặt phải luôn có mặt trong suốt thời gian thi đấu.
    3.3.1.5 Khi tin chắc rằng cần thiết phải làm như thế th́ tổng trọng tài có thể thay nhân viên của trận đấu bằng người khác bất cứ lúc nào, nhưng không thể sửa đổi một quyết định của nhân viên trận đấu đă bị thay thế về một vấn đề thực tế trong phạm vi thuộc thẩm quyền của người đó.
    3.3.1.6 Các đấu thủ sẽ chịu sự điều hành của Tổng trọng tài từ khi bước vào địa điểm thi đấu đến khi rời khỏi địa điểm thi đấu.
    3.3.2 Trọng tài, trợ lư trọng tài và người bấm đồng hồ
    3.3.2.1 Một trọng tài và một phụ tá trọng tài được chỉ định cho mỗi trận đấu.
    3.3.2.2 Trọng tài sẽ ngồi hay đứng ở phía cạnh bàn thẳng hàng với lưới và người phụ tá sẽ ngồi đối diện với trọng tài ở phía bên kia của bàn.
    3.3.2.3 Trọng tài có trách nhiệm
    3.3.2.3.1 Kiểm tra chấp thuận dụng cụ thi đấu cũng như các điều kiện thi đấu và báo cáo với Tổng trọng tài bất kỳ thiếu sót ǵ;
    3.3.2.3.2 Chọn 1 quả bóng theo ngẫu nhiên như đưa ra ở điều 3.4.2.1.1-2;
    3.3.2.3.3 Tiến hành rút thăm để chọn giao bóng, đỡ giao bóng và các phía cuối của bàn;
    3.3.2.3.4 Quyết định xem có thể nới lỏng những yêu cầu của điều luật giao bóng đối với một đấu thủ có khuyết tật;
    3.3.2.3.5 Giám sát việc giao bóng, đỡ giao bóng, phía bàn đứng và sửa bất kỳ lỗi nào trong phương diện đó;
    3.3.2.3.6 Quyết định mỗi loạt đánh bóng là một điểm hay là lần đánh lại;
    3.3.2.3.7 Xướng điểm theo như thủ tục đă qui định;
    3.3.2.3.8 Áp dụng phương pháp đánh khẩn trương vào thời điểm thích hợp;
    3.3.2.3.9 Bảo đảm tính liên tục của cuộc đấu;
    3.3.2.3.10 Có biện pháp giải quyết đối với những phạm vi qui định về chỉ đạo ngoài bàn và thái độ tác phong.
    3.3.2.4 Trợ lư trọng tài sẽ quyết định quả bóng đang trong cuộc có chạm vào cạnh trên của bàn hay không, phía bàn mà gần anh ta nhất.
    3.3.2.5 Trọng tài hoặc trợ lư trọng tài có thể
    3.3.2.5.1 Quyết định động tác giao bóng của đấu thủ là trái với luật;
    3.3.2.5.2 Quyết định quả bóng có chạm vào lưới khi bay qua hoặc ṿng qua lưới.
    3.3.2.5.3 Quyết định là đấu thủ đă cản bóng.
    3.3.2.5.4 Quyết định rằng các điều kiện thi đấu bị xáo lộn ở một chừng mực nào đó nó có thể ảnh hưởng tới kết quả của loạt đường bóng đánh qua lại;
    3.3.2.5.5 Tính khoảng thời gian của giai đoạn dượt bóng, thi đấu và các lần tạm nghỉ.
    3.3.2.6 Có thể là trợ lư trọng tài hay một nhân viên bấm đồng hồ thực hiện việc điểm số lần đỡ bóng của đấu thủ hay đôi đấu thủ khi tiến hành phương pháp đánh khẩn trương.
    3.3.2.7 Một quyết định của trợ lư trọng tài hoặc người bấm đồng hồ làm theo đúng những qui định của điều 3.3.2.5-6 th́ không thể bị trọng tài chính bác bỏ.
    3.3.3 Khiếu nại
    3.3.3.1 Không có một sự nhất trí nào giữa các đấu thủ trong một trận đấu cá nhân hoặc giữa những đội trưởng trong một trận đấu đồng đội lại có thể sửa đổi một quyết định về một vấn đề thực tế của nhân viên có trách nhiệm về trận đấu, cũng như về vấn đề giải thích Luật và các Qui định của Tổng trọng tài có trách nhiệm về bất kỳ vấn đề ǵ của cuộc thi hay trận đấu tiến hành mà ban tổ chức điều hành chịu trách nhiệm.
    3.3.3.2 Không có khiếu nại nào đưa cho tổng trọng tài để chống lại quyết định về một vấn đề thực tế của nhân viên có trách nhiệm của trận đấu hoặc đưa cho ban tổ chức điều hành về một vấn đế giải thích Luật hoặc các Qui định của tổng trọng tài.
    3.3.3.3 Có thể khiếu nại với tổng trọng tài về quyết định của nhân viên của trận đấu trong việc giải thích Luật hoặc các Qui định và quyết định của tổng trọng tài sẽ là tối hậu.
    3.3.3.4 Có thể khiếu nại với ban tổ chức điều hành thi đấu đối với một quyết định của tổng trọng tài về vấn đề của cuộc thi hay của trận đấu tiến hành mà có trong Luật và các Qui định và quyết định của ban tổ chức điều hành sẽ là tối hậu.
    3.3.3.5 Trong trận đấu cá nhân chỉ có đấu thủ đang trong cuộc đấu xẩy ra vấn đề mới được khiếu nại; trong cuộc đấu đồng đội chỉ có đội trưởng của đội đang thi đấu nẩy sinh vấn đề mới được khiếu nại.
    3.3.3.6 Đấu thủ hay đội trưởng có quyền thông qua Hiệp hội của ḿnh khiếu nại tới Uỷ ban luật của Liên đoàn bóng bàn thế giới xem xét một vấn đề nẩy sinh về giải thích Luật lệ và các Qui định trong quyết định của tổng trọng tài hoặc về vấn đề phát sinh khi điều hành trận đấu trong quyết định của ban tổ chức cuộc thi.
    3.3.3.7 Uỷ ban luật sẽ đưa ra một quyết định làm điều chỉ dẫn cho các phán quyết sau này và quyết định này cũng có thể là chủ đề bản kháng nghị của một Liên đoàn với Ban chấp hành hay với Hội nghị toàn thể nhưng nó sẽ không ảnh hưởng tới tính chung cuộc của bất kỳ phán quyết nào mà tổng trọng tài có trách nhiệm hoặc ban tổ chức điều hành đă đưa ra.

    3.4 ĐIỀU HÀNH TRẬN ĐẤU

    3.4.1 Xướng điểm
    3.4.1.1 Trọng tài xướng điểm ngay khi bóng đă ở ngoài cuộc lúc kết thúc của một loạt đường bóng đánh qua lại hoặc có thể thực hiện sớm ngay sau đó.
    3.4.1.1.1 Khi xướng điểm trong một ván, trước tiên trọng tài xướng số điểm được của đấu thủ hoặc cặp đấu thủ sắp giao ở lần tiếp theo, và sau đó mới xướng điểm của đấu thủ hay cặp đấu thủ đối phương.
    3.4.1.1.2 Vào đầu ván và trong một lần đổi người giao bóng, sau khi xướng điểm trọng tài sẽ nêu tên và chỉ người sẽ giao bóng lần tới.
    3.4.1.1.3 Cuối mỗi ván, trọng tài sẽ nói tên đấu thủ hay cặp đấu thủ thắng rồi báo số điểm thắng của họ và sau đó là số điểm của đấu thủ hay cặp đấu thủ bị thua.
    3.4.1.2 Ngoài việc xướng điểm ta trọng tài có thể dùng các kư hiệu bằng tay để cho biết về các quyết định của ḿnh.
    3.4.1.2.1 Khi một điểm được ghi, trọng tài có thể giơ cao ngang vai tay gần nhất với đấu thủ hay đôi đấu thủ vừa được điểm.
    3.4.1.2.2 Khi v́ một lư do nào đó phải đánh lại, trọng tài có thể giơ cao tay trên đầu để chỉ ra là loạt đường bóng qua lại đó đă kết thúc.
    3.4.1.3 Xướng điểm cũng như số lần đánh bóng khi áp dụng phương pháp đánh khẩn trương sẽ dùng tiếng Anh hoặc một thứ tiếng mà cả hai đấu thủ hoặc hai đôi đấu thủ và trọng tài đều chấp thuận.
    3.4.1.4 Điểm số sẽ được thể hiện bằng những bảng cơ học hay điện tử song phải làm sao cho cả đấu thủ và khán giả đều thấy rơ.
    3.4.1.5 Khi một đấu thủ chính thức bị cảnh cáo về thái độ xấu th́ một dấu hiệu mầu vàng sẽ được đặt gần bảng số cạnh số điểm của đấu thủ đó.
    3.4.2 Dụng cụ
    3.4.2.1 Các đấu thủ sẽ không chọn bóng ở trong khu vực thi đấu.
    3.4.2.1.1 Trước khi vào khu vực thi đấu ở bất kỳ nơi nào thuận tiện các đấu thủ sẽ chọn ra một số quả bóng và trọng tài sẽ ngẫu nhiên lấy một trong số những quả bóng đó để dùng cho trận đấu.
    3.4.2.1.2 Nếu trước khi vào khu vực thi đấu mà các đấu thủ không chọn ra được quả bóng nào th́ trọng tài sẽ ngẫu nhiên lấy trong hộp bóng giành cho cuộc thi một quả bóng để dùng cho trận đấu.
    3.4.2.1.3 Nếu trong một trận đấu mà quả bóng bị hư hại th́ nó sẽ được thay bằng một trong số những quả bóng đă được chọn trước trận đấu c̣n nếu như không có quả bóng như thế th́ trọng tài sẽ chọn 1 cách ngẫu nhiên trong một hộp bóng được dùng cho cuộc thi đó.
    3.4.2.2 Trong một trận đấu cá nhân không được thay vợt trừ khi nó ngẫu nhiên bị hư hại đến mức không thể sử dụng được; trong trường hợp này sẽ được thay thế ngay bằng chiếc vợt mà đấu thủ đă mang theo cùng vào khu vực thi đấu hay bằng chiếc vợt khác được đưa cho đấu thủ đó trong khu vực thi đấu.
    3.4.2.3 Trong khoảng thời gian nghỉ (lúc tạm dừng) các đấu thủ phải để vợt của ḿnh ở trên bàn trừ khi trọng tài cho phép th́ mới được làm khác đi.
    3.4.3 Đánh thử
    3.4.3.1 Các đấu thủ được quyền đánh thử (khởi động với bóng) trong 2 phút tại bàn thi đấu ngay trước khi bắt đầu một trận đấu song không phải trong những lúc tạm dừng thông thường; thời gian đánh thử đặc biệt có thể kéo dài nhưng phải được sự cho phép của tổng trọng tài.
    3.4.3.2 Trong lúc khẩn cấp tạm đ́nh chỉ trận đấu th́ tổng trọng tài có thể cho các đấu thủ đánh tập trên bát kỳ chiếc bàn nào kể cả bàn thi đấu.
    3.4.3.3 Các đấu thủ sẽ có cơ hội hợp lư để kiểm tra và làm quen với bất cứ dụng cụ nào mà họ sẽ sử dụng, nhưng như thế không phải tự động cho phép họ có quyền nhiều hơn vài lần đánh tập các đường bóng qua lại trước khi tiếp tục trận đấu sau lúc đă thay bóng hay vợt bị hỏng.
    3.4.4 Những thời gian tạm dừng
    3.4.4.1 Trận đấu phải diễn ra liên tục ngoại trừ bất kỳ đấu thủ nào cũng có quyền
    3.4.4.1.1 Được tạm nghỉ trong ṿng 1 phút giữa các ván liên tiếp của một trận đấu;
    3.4.4.1.2 Những lần nghỉ ngắn để lau mồ hôi sau mỗi đợt 6 điểm kể từ khi bắt đầu mỗi ván đấu hay khi đổi bên ở ván cuối cùng của trận đấu.
    3.4.4.2 Trong một trận đấu th́ một đấu thủ hay đôi đấu thủ có thể yêu cầu được tạm dừng 1 lần trong khoảng thời gian một phút.
    3.4.4.2.1 Trong một trận đấu cá nhân th́ đấu thủ, đôi đấu thủ hay người được chỉ định là chỉ đạo viên có thể yêu cầu xin được tạm dừng; trong thi đấu đồng đội th́ yêu cầu đó có thể do đấu thủ, đôi đấu thủ hay đội trưởng thực hiện.
    3.4.4.2.2 Nếu một đầu thủ hoặc đôi đấu thủ và một người chỉ đạo hoặc đội trưởng không chấp nhận tạm dừng, quyết định cuối cùng sẽ do đấu thủ hoặc đôi đấu thủ trong thi đấu cá nhân và đội trưởng trong thi đấu đồng đội quyết định.
    3.4.4.2.3 Khi tiếp nhận một yêu cầu tạm nghỉ có hiệu lực trọng tài sẽ tạm dừng trận đấu giơ lên 1 tấm thẻ trắng, sau đó th́ đặt tấm thẻ trên mặt bàn của đấu thủ hay đôi đấu thủ yêu cầu.
    3.4.4.2.4 Thẻ trắng sẽ được lấy đi và trận đấu sẽ tiếp tục ngay khi đấu thủ, đôi đấu thủ xin tạm nghỉ đă sẵn sàng thi đấu tiếp hay lúc cuối của một phút.
    3.4.4.2.5 Nếu như yêu cầu tạm nghỉ đồng thời do cả hai đấu thủ hoặc đôi đấu thủ đưa ra th́ trận đấu sẽ bắt đầu ngay sau khi cả hai đấu thủ hoặc đôi đấu thủ đă sẵn sàng hoặc vào cuối của 1 phút tạm nghỉ và không bên nào được phép yêu cầu tạm nghỉ khác trong suốt trận đấu đối với trận đấu cá nhân.
    3.4.4.3 Tổng trọng tài có thể cho phép tạm ngừng trận đấu trong một thời gian ngắn nhất và bất cứ trường hợp nào cũng không quá 10 phút, nếu một đấu thủ tạm thời bị suy yếu do một tai nạn, với điều kiện là ư kiến của tổng trọng tài thấy rằng việc tạm ngừng trận đấu không làm bất lợi cho đối thủ hay cặp đôi đối phương.
    3.4.4.4 Không cho phép ngừng trận đấu v́ một khuyết tật hiện có hay tương đối là chuyện thường t́nh khi bắt đầu trận đấu hoặc là sự căng thẳng thông thường của trận đấu; sự bất lực như chuột rút hay kiệt sức do t́nh trạng sức khỏe hiện hành của đấu thủ hay bởi cách diễn tiến của trận đấu không là lư do chính đáng để ngừng trận đấu khẩn cấp, điều đó chỉ có thể cho phép khi sự bất lực là hậu quả của một tai nạn như bị tổn thương do té ngă.
    3.4.4.5 Nếu một người nào đó bị chảy máu trong khu vực thi đấu th́ trận đấu phải dừng ngay lại và chỉ tiếp tục sau khi người đó đă nhận được chăm sóc của y tế và các vết máu đă được dọn sạch ở khu vực thi đấu.
    3.4.4.6 Các đấu thủ phải ở trong hay gần khu vực thi đấu trong suốt cả trận đấu, trừ khi được tổng trọng tài cho phép; trong thời gian tạm nghỉ giữa các ván các đấu thủ phải ở lại trong ṿng 3m của khu vực thi đấu dưới sự giám sát của trọng tài.

    3.5 KỶ LUẬT

    3.5.1 Góp ư kiến
    3.5.1.1 Trong thi đấu đồng đội, các đấu thủ có thể nhận sự góp ư (chỉ đạo) của bất kỳ người nào.
    3.5.1.2 Trong các giải cá nhân, một đấu thủ hay đôi đấu thủ chỉ có thể nhận ư kiến chỉ đạo của một người, người đó đă được xác định cho trọng tài biết trước, trừ khi các đấu thủ của một cặp đôi là của khác Liên đoàn th́ mỗi đấu thủ có thể chỉ định một người chỉ đạo; Nhưng sự đề cập ở điều 3.5.1 và 3.5.2 th́ hai người chỉ đạo này sẽ được xem xét như là một. Nếu như người không được phép mà chỉ đạo th́ trọng tài sẽ giơ thẻ đỏ và đuổi người đó ra khỏi khu vực thi đấu.
    3.5.1.3 Các đấu thủ chỉ có thể nhận góp ư chỉ đạo trong thời gian nghỉ giữa các ván hoặc trong khi được phép tạm dừng trận đấu và không phải giữa lúc kết thúc khởi động với bóng trên bàn với lúc bắt đầu trận đấu; nếu bất kỳ người được chỉ định nào mà góp ư chỉ đạo vào các thời điểm khác th́ trọng tài sẽ giơ thẻ vàng cảnh cáo rằng nếu có bất cứ điều vi phạm tương tự nào như thế nữa th́ người đó sẽ bị đuổi khỏi khu vực thi đấu.
    3.5.1.4 Sau khi đă bị cảnh cáo một lần, nếu cùng trong trận thi đấu đồng đội hay cùng trong trận của một giải thi đấu cá nhân, bất cứ người nào lại góp ư chỉ đạo trái luật th́ trọng tài sẽ giơ thẻ đỏ và đuổi người đó khỏi khu vực thi đấu cho dù người này có phải là người đă bị cảnh cáo hay không.
    3.5.1.5 Trong một trận thi đấu đồng đội người chỉ đạo đă bị đuổi sẽ không được phép trở lại cho đến khi trận thi đấu đồng đội đó kết thúc trừ khi là yêu cầu để thi đấu; trong cuộc thi đấu cá nhân người đó sẽ không được phép trở lại cho đến hết trạn đấu cá nhân đó.
    3.5.1.6 Nếu người góp ư chỉ đạo bị đuổi từ chối không chịu đi hoặc trở lại trước khi kết thúc trận đấu th́ trọng tài sẽ dừng thi đấu và báo cáo với tổng trọng tài.
    3.5.1.7 Những qui định này chỉ áp dụng đối với chỉ đạo trong lúc thi đấu và sẽ không ngăn cản đấu thủ hay đội trưởng, tùy trường hợp kháng cáo hợp lệ hay cản trở sự tham khảo ư kiến với phiên dịch viên hay người đại diện của Liên đoàn ḿnh trong việc giải thích một quyết định có tính cách pháp lư.
    3.5.2 Cư xử xấu
    3.5.2.1 Các đấu thủ và các huấn luyện viên cần kiềm chế cách xử sự có thể ảnh hưởng xấu tới đối thủ, xúc phạm các khán giả hoặc làm cho thể thao bị mang tiếng; ví dụ như lời nói lăng mạ, cố ư làm vỡ bóng hoặc đánh bóng ra khỏi phạm vi thi đấu, đá bàn hay các tấm chắn, thay vợt mà không báo hoặc không tôn trọng các nhân viên trận đấu.
    3.5.2.2 Bất cứ khi nào đấu thủ hay huấn luyện viên phạm lỗi nặng th́ trọng tài sẽ đ́nh chỉ thi đấu và báo cáo ngay với tổng trọng tài; đối với lỗi nhẹ hơn th́ lần đầu tiên trọng tài có thể giơ thẻ vàng và cảnh cáo người phạm lỗi là nếu c̣n tiếp tục th́ sẽ bị phạt.
    3.5.2.3 Trừ trường hợp đă nói ở điều 3.5.2.2 và 3.5.2.5 nếu một vận động viên vừa bị cảnh cáo lại phạm đến lỗi thứ 2 trong cùng trận đấu cá nhân hay trận đấu đồng đội th́ trọng tài sẽ cho đối thủ của vận động viên vừa phạm lỗi được hưởng 1 điểm và đối với mỗi lỗi ti?p theo th́ sẽ cho hưởng 2 điểm, ở mỗi lần như vậy th́ giơ một thẻ vàng cùng với một thẻ đỏ.
    3.5.2.4 Nếu đấu thủ bị phạt 3 điểm cùng một trận đấu cá nhân hay trận đấu đồng đội mà vẫn tiếp tục cư xử xấu th́ trọng tài sẽ dừng trận đấu và báo cáo ngay với tổng trọng tài.
    3.5.2.5 Trong một trận đấu cá nhân nếu đấu thủ thay vợt khi trường hợp chiếc vợt không bị hư hỏng th́ trọng tài sẽ dừng trận đấu và báo cáo với tổng trọng tài.
    3.5.2.6 Sự cảnh cáo hay phạt lỗi của bất kỳ đấu thủ nào của một đôi chỉ có hiệu lực đối với đôi đó, không có hiệu lực đối với đấu thủ không phạm lỗi trong trận đấu cá nhân tiếp theo của cùng trận đấu đồng đội đó; lúc bắt đầu của trận đấu đôi một đôi xem như đă chịu những lời cảnh cáo hay h́nh phạt cao hơn của bất cứ đấu thủ nào trong cùng trận đấu đồng đội đó.
    3.5.2.7 Trừ việc nêu ở điển 3.5.2.2, nếu như huấn luyện viên đă bị cảnh cáo mà phạm một lỗi tiếp theo trong cùng trận đấu cá nhân hay trận đấu đồng đội th́ trọng tài sẽ giơ thẻ đỏ và đuổi huấn luyện viên đó ra khỏi khu vực thi đấu cho đến hết trận đấu đồng đội hay trận đấu cá nhân của giải thi đấu cá nhân.
    3.5.2.8 Tổng trọng tài có quyền loại một đấu thủ ra khỏi một trận đấu, một giải hay một cuộc thi v́ không trung thực nghiêm trọng hay cư xử xấu, cho dù trọng tài bàn có báo cáo hay không, v́ là ḿnh quyết định nên tổng trọng tài sẽ giơ thẻ đỏ lên.
    3.5.2.9 Nếu đấu thủ đă bị truất quyền thi đấu 2 trận ở giải đồng đội hay giải cá nhân th́ sẽ tự động bị loại khỏi giải đồng đội hay giải cá nhân đó.
    3.5.2.10 Tổng trọng tài cóthể truất quyền phần thi đấu c̣n lại của cuộc thi với bất cứ ai nếu người đó đă 2 lần bị đuổi khỏi khu vực thi đấu trong quá tŕnh của cuộc thi đó.
    3.5.2.11 Những trường hợp cư xử xấu rất nghiêm trọng th́ sẽ thông báo cho Hiệp hội của người đă vi phạm.
    3.5.3 Dán vợt
    3.5.3.1 Các mặt vợt có thể dán vào cốt vợt bằng cách dùng các tờ dính nhạy cảm áp lực hay các chất keo mà không chứa dung môi bị cấm. Bản danh mục các dung môi bị cấm có sẵn ở ban thư kư.
    3.5.3.2 Những cuộc kiểm tra với các loại dung môi bị cấm sẽ được tiến hành tại Giải vô địch thế giới, Olympic và các cuộc thi chủ yếu của loạt giải đấu chuyên nghiệp. Nếu một đấu thủ nào có vợt bị phát hiện sử dụng loại dung môi bị cấm th́ sẽ bị loại khỏi cuộc thi và thông báo cho Hiệp hội của người đó.
    3.5.3.3 Sẽ bố trí một diện tích thông thoáng thích hợp dành cho việc dán mặt vợt và các keo dán lỏng sẽ không được dùng ở bất cứ chỗ nào khác trong hội trường thi đấu.

    3.6 RÚT THĂM CÁC CUỘC THI ĐẤU LOẠI TRỰC TIẾP

    3.6.1 Được miễn và được vào đấu ṿng kế tiếp
    3.6.1.1 Số lượng vị trí ở ṿng đầu tiên của đấu loại trực tiếp phải là lũy thừa của 2.
    3.6.1.1.1 Nếu số lượng đăng kư ít hơn số vị trí thi đấu th́ ṿng đầu tiên phải gồm đủ số được miễnđể đạt được số lượng yêu cầu.
    3.6.1.1.2 Nếu số lượng đăng kư nhiều hơn số vị trí thi đấu th́ sẽ tổ chức một cuộc đấu loại sao cho số vượt qua ṿng loại cộng với số không phải đấu loại bằng với số vị trí theo yêu cầu.
    3.6.1.2 Các vị trí được miễn được phân bổ càng đều càng tốt ngay từ ṿng đầu, trước hết được xếp đối diện với các vị trí hạt giống theo thứ tự xếp hạng hạt giống.
    3.6.1.3 Những người đủ tiêu chuẩn được rút thăm càng đồng đều càng tốt vào 1/2, 1/4, 1/8, 1/16 bảng sao cho thích hợp.
    3.6.2 Chọn hạt giống theo thứ tự xếp hạng
    3.6.2.1 Trong một giải những đăng kư dự thi có thứ tự xếp hạng cao nhất sẽ được xếp vào các vị trí hạt giống để sao cho họ không phải gặp nhau trước những ṿng đấu cuối cùng.
    3.6.2.2 Số được chọn làm hạt giống không được vượt quá số lượng thích hợp đăng kư ở ṿng đấu đầu tiên của giải thi đấu đó.
    3.6.2.3 Hạt giống số 1 sẽ được xếp vào vị trí đầu tiên của nửa phần thứ nhất bảng rút thăm và hạt giống số 2 sẽ xếp vào vị trí cuối cùng của nửa phần thứ hai, c̣n tất cả các hạt giống khác sẽ rút thăm và các vị trí đă được qui định như sau:
    3.6.2.3.1 Hạt giống số 3 và 4 sẽ được rút thăm vào vị trí cuối cùng của nửa phần thứ nhất hay vị trí đầu của nửa phần thứ hai;
    3.6.2.3.2 Những hạt giống từ 5 đến 8 th́ được rút thăm vào các vị trí cuối những phần tư lẻ của bảng (1/4) và đầu những phần tư chẵn;
    3.6.2.3.3 Những hạt giống từ 9 đến 16 th́ được rút thăm vào các vị trí cuối cùng những phần tám lẻ của bảng (1/8) và đầu những phần tám chẵn;
    3.6.2.3.4 Những hạt giống từ 17 đến 32 được rút thăm vào các vị trí cuối những phần mười sáu lẻ (1/16) của bảng và ở đầu những phần mười sáu chẵn.
    3.6.2.4 Trong một cuộc thi đấu đồng đội theo thể thức loại trực tiếp th́ chỉ có một đội xếp hạng cao nhất của một Liên đoàn mới có đủ tư cách được xét chọn làm hạt giống theo thứ tự xếp hạng.
    3.6.2.5 Việc xếp hạng hạt giống phải tuân theo thứ tự của bảng xếp hạng mới nhất do Liên đoàn bóng bàn thế giới công bố trừ:
    3.6.2.5.1 Trường hợp tất cả những đăng kư có đủ tư cách được chọn là hạt giống đều thuộc những Hội của cùng một Liên đoàn Châu Lục th́ bảng xếp hạng mới nhất của Liên đoàn Châu Lục ấy sẽ được ưu tiên;
    3.6.2.5.2 Trường hợp tất cả những đăng kư có đủ tư cách được chọn là hạt giống mà đều thuộc cùng một Liên đoàn th́ bảng xếp hạng mới nhất của Liên đoàn đó sẽ được ưu tiên.
    3.6.3 Phân bố theo đề cử của Liên đoàn
    3.6.3.1 Những đấu thủ và những đôi đối thủ của cùng một Liên đoàn sẽ được phân bố càng xa càng tốt sao cho họ không gặp nhau trước những ṿng cuối của giải.
    3.6.3.2 Các Liên đoàn lập đăng kư danh sách các đấu thủ và các cặp đôi theo thứ tự tŕnh độ cao xuống thấp bắt đầu với bất kỳ những đấu thủ nào nằm trong bảng xếp hạng được dùng để chọn hạt giống, theo thứ tự của danh sách đó.
    3.6.3.3 Đăng kư thứ tự số 1 và số 2 sẽ được rút thăm vào những phần của bảng khác nhau, số 3 và 4 sẽ rút vào 1/4 bảng khác không cùng 1/4 bảng mà 2 người đầu đă rút thăm vào.
    3.6.3.4 Đăng kư thứ tự số 5 đến số 8 sẽ được rút thăm càng đều càng tốt vào những phần tám (1/8) của bảng, mà ở đó không có 4 vị trí trước.
    3.6.3.5 Đăng kư thứ tự số 9 đến số 16 sẽ được rút thăm càng đều càng tốt vào những phần mười sáu (1/16) của bảng, mà ở đó không có vị trí của những đấu thủ hay những đôi đấu thủ xếp hạng cao hơn và cứ như vậy cho đến khi tất cả các đăng kư được sắp xếp xong.
    3.6.3.6 Một đôi nam hay một đôi nữ gồm đấu thủ của hai Liên đoàn khác nhau được coi như là một đôi của Liên đoàn có đấu thủ xếp hạng cao hơn trong bảng xếp hạng thế giới hay khi cả hai đều không có trong danh sách ấy th́ sẽ tính xem người có trong bảng thích hợp của Châu lục; nếu cả hai đấu thủ không có ở cả hai danh sách xếp hạng trên th́ đôi này được coi như một đôi thành viên của Liên đoàn mà có thứ hạng xếp cao hơn ở bảng xếp hạng đồng đội thích hợp của giải vô địch thế giới.
    3.6.3.7 Một đôi nam nữ hỗn hợp gồm đấu thủ của hai Liên đoàn khác nhau sẽ được coi là một đôi Liên đoàn mà đấu thủ nam đó trực thuộc.
    3.6.3.8 Trong một cuộc đấu loại những đăng kư thuộc cùng một Liên đoàn ít hơn hoặc bằng số lượng của các nhóm đấu loại phải được rút thăm vào các nhóm khác nhau theo cách đó những người được quyền vào thi đấu tiếp ṿng sau ở các vị trí càng xa nhau càng tốt theo như những nguyên tắc của điều 3.6.3.3-5.
    3.6.3.9 Một Liên đoàn có thể đề cử một đấu thủ trong thẩm quyền của ḿnh dự thi bất cứ giải thi đấu cá nhân nào mà người ấy có đủ khả năng, tuy nhiên một đấu thủ đủ tư cách đại diện cho Liên đoàn nào đó vẫn có quyền chấp nhận sự đề cử của Liên đoàn đó.
    3.6.4 Những thay đổi
    3.6.4.1 Cuộc rút thăm đă hoàn tất th́ chỉ có thể thay đổi được khi được phép của ban điều hành có trách nhiệm và trường hợp thích hợp có sự đồng ư của các đại diện Liên đoàn có liên quan trực tiếp.
    3.6.4.2 Việc rút thăm có thể thay đổi chỉ để sửa những sai sót và những sự hiểu lầm thực sự trong việc thông báo và nhận đăng kư, để sửa sự mất cân đối nghiêm trọng như đă quy định ở điều 3.6.5. hoặc bao gồm những đấu thủ hoặc đôi đấu thủ bổ sung như quy định ở điều 3.6.6.
    3.6.4.3 Không có bất kỳ sự thay đổi nào khác ngoài những loại bỏ cần thiết của bảng rút thăm sau khi giải đă bắt đầu thi đấu, cho v́ mục đích của quy định này th́ một cuộc đấu loại có thể coi như một giải riêng.
    3.6.4.4 Trừ khi bị truất quyền thi đấu c̣n th́ không một đấu thủ nào bị gạt bỏ khỏi bảng rút thăm nếu không có sự đồng ư của người đó khi có mặt hoặc của người đại diện hay được ủy quyền khi đấu thủ đó vắng mặt.
    3.6.4.5 Không được phép thay đổi một cặp đấu đôi nếu cả hai đấu thủ đều có mặt và sẵn sàng thi đấu; nhưng một đấu thủ bị thương, bị ốm hay vắng mặt th́ có thể chấp nhận sự biện minh cho một sự thay đổi.
    3.6.5 Rút thăm lại
    3.6.5.1 Trừ những quy định như ở điều 3.6.4.2, 3.6.4.5 và 3.6.5.2, một đấu thủ không được chuyển từ vị trí này sang vị trí khác trong bảng rút thăm và nếu v́ một lư do nào đó bảng rút thăm trở nên mất cân đối nghiêm trọng hễ khi có thể được th́ giải đó sẽ rút thăm lại hoàn toàn.
    3.6.5.2 Trường hợp khác thường, khi sự mất cân đối do sự vắng mặt của một vài đơn hay đôi hạt giống trong cùng phần của bảng rút thăm, th́ số đơn hay đôi hạt giống c̣n lại chỉ có thể đánh số lại theo thứ tự xếp hạng và rút thăm lại trong chừng mực có thể được vào các vị trí hạt giống tính đến thực thi những yêu cầu đối với đề cử hạt giống của Liên đoàn.
    3.6.6 Bổ sung
    3.6.6.1 Những đấu thủ chưa có tên trong bảng rút thăm ban đầu có thể bổ sung sau theo nhận xét của ủy ban điều hành có trách nhiệm và sự đồng ư của tổng trọng tài.
    3.6.6.2 Bất kỳ những vị trí hạt giống bị khuyết nào phải được bổ sung trước theo thứ tự xếp hạng, bằng cách rút thăm vào các vị trí đó những đấu thủ và những cặp đôi mới mạnh nhất; c̣n những đấu thủ và những đôi tiếp theo sẽ được rút thăm vào những vị trí khuyết do vắng mặt hoặc do bị truất quyền thi đấu và sau đó vào những vị trí được miễn khác ngoài những vị trí đối diện với những đấu thủ hay những đôi hạt giống.
    3.6.6.3 Bất kỳ đấu thủ hay cặp đôi nếu được rút vào bảng rút thăm ban đầu mà đáng lẽ họ được chọn là hạt giống theo bảng xếp hạng th́ chỉ có thể được rút thăm vào các vị trí chỗ trống của các vị trí hạt giống.

    3.7 TỔ CHỨC CÁC CUỘC THI ĐẤU

    3.7.1 Thẩm quyền
    3.7.1.1 Với điều kiện là tuân thủ hiến chương, bất kỳ Liên đoàn nào cũng có thể tổ chức hoặc ủy quyền tổ chức các giải mở rộng, giải hạn chế, giải mời trên lănh thổ của ḿnh hay tổ chức các trận giao đấu quốc tế.
    3.7.1.2 Vào bất kỳ mùa giải nào, một Liên đoàn có thể đề cử một giải thanh niên, một giải thiếu niên và một giải lăo tướng tổ chức như là 1 giải quốc tế mở rộng thanh niên, thiếu niên và lăo tướng của họ; một đấu thủ chỉ có thể tham gia thi đấu các giải đó với sự cho phép của Liên đoàn ḿnh, những sự cho phép như thế không thể bị từ chối một cách không hợp lư.
    3.7.1.3 Một đấu thủ không thể tham gia một giải hạn chế hay một giải mời mà không có sự cho phép của Liên đoàn ḿnh, trừ khi đă được phép chung của Liên đoàn bóng bàn thế giới hoặc khi các đấu thủ đều cùng thuộc một Châu th́ phải được phép của Liên đoàn Châu ấy.
    3.7.1.4 Một đấu thủ không thể tham gia 1 cuộc thi đấu quốc tế nếu như đấu thủ ấy bị Liên đoàn của ḿnh tạm đ́nh chỉ.
    3.7.1.5 Không một cuộc thi đấu nào được mang danh nghĩa Thế giới nếu không được phép của Liên đoàn bóng bàn thế giới hoặc danh nghĩa Châu lục nếu không được phép của Liên đoàn Châu ấy.
    3.7.2 Đại diện
    3.7.2.1 Các đại diện của tất cả các Liên đoàn có đấu thủ tham gia một giải quốc tế mở rộng đều có quyền tham sự cuộc rút thăm và tham gia ư kiến trong những thay đổi của bảng rút thăm hoặc với các quyết định khiếu nại mà có thể ảnh hưởng trực tiếp đến các đấu thủ của họ.
    3.7.2.2 Một Liên đoàn khách mời có quyền đề cử ít nhất một đại diện vào ban điều hành của bất cứ trận đấu quốc tế nào mà họ tham dự.
    3.7.3. Đăng kư
    3.7.3.1 Các mẫu đơn đăng kư của các giải quốc tế mở rộng phải được gửi tới tất cả các Liên đoàn chậm nhất là trước 2 tháng trước khi bắt đầu cuộc thi và chậm nhất là 1 tháng trước ngày hết hạn nhận đơn đăng kư.
    3.7.3.2 Tất cả những đăng kư mà các Liên đoàn gửi tới các cuộc thi đấu mở rộng đều phải được nhận, nhưng những người tổ chức có quyền chỉ định những người tham gia cuộc thi đấu loại; trong quyết định phân bổ này họ phải tính đến bảng thành tích xếp hạng thích hợp của Liên đoàn bóng bàn thế giới và của Liên đoàn Châu cũng như thứ tự xếp hạng trong đăng kư nêu rơ của Liên đoàn đề cử.
    3.7.4 Các môn thi đấu
    3.7.4.1 Những giải Vô địch quốc tế mở rộng sẽ gồm các môn thi đơn nam, đơn nữ, đôi nam, đôi nữ, và có thể là đôi nam nữ và thi đấu đồng đội quốc tế cho các đội đại diện cho các Liên đoàn.
    3.7.4.2 Trong các giải mang danh nghĩa Thế giới đấu thủ trong độ tuổi trẻ, thiếu niên và nhi đồng có thể dưới 21 tuổi, dưới 18, dưới 15 tính đến ngày 31 tháng 12 của năm mà giải đó được tổ chức, giới hạn của các độ tuổi này được đề xuất để phù hợp với các môn thi đấu và trong những giải thi đấu khác.
    3.7.4.3 Đề xuất các trận thi đấu đồng đội của các giải quốc tế mở rộng có thể sử dụng trong các thể thức như qui định ở điều 3.7.6; trong mẫu đơn đăng k? hay điều lệ phải tŕnh bày rơ là đấu theo thể thức nào.
    3.7.4.4 Những môn thi đấu cá nhân thích hợp là đấu theo nguyên tắc chính loại trực tiếp, c̣n những môn thi đấu đồng đội và những ṿng loại của các giải cá nhân th́ có thể đấu loại trực tiếp hay đấu theo nhóm.
    3.7.5 Thi đấu theo nhóm
    3.7.5.1 Trong cuộc thi đấu của ảnh hưởng nhóm hay thi đấu ṿng tṛn, tất cả các thành viên trong nhóm đều phải đấu với nhau và mỗi trận thắng được 2 điểm, mỗi trận đấu thua được 1 điểm và 0 điểm nếu không đấu hoặc không kết thức trận đấu; thứ tự xếp hạng sẽ được xác định chủ yếu dựa trên số điểm thi đấu đạt được.
    3.7.5.2 Nếu có 2 hoặc nhiều thành viên của nhóm đạt được cùng số điểm như nhau th́ vị trí tương quan của các thành viên đó sẽ được xác định chỉ dựa trên kết quả các trận thi đấu giữa họ với nhau bằng cách xem xét lần lượt những số điểm của trận đấu, trước tiên là tỷ số thắng thua ở các trận đấu cá nhân (đối với các giải đồng đội), các ván và điểm số cho đến lúc cần thiết để phân định thứ hạng.
    3.7.5.3 Nếu tới bước nào trong việc tính toán mà những thứ hạng của 1 hay nhiều thành viên đă xác định được trong khi những người khác vẫn bằng nhau th́ kết quả của các trận đấu mà những thành viên đó tham dự được tách ra khỏi bất kỳ tính toán tiếp theo nào để giải quyết t́nh trạng bằng nhau theo đúng phương thức như của điều 3.7.5.1 và 3.7.5.2.
    3.7.5.4 Nếu như không thể giải quyết t́nh trạng bằng nhau các cách thức như thủ tục đă qui định ở điều 3.7.5.1-3 th́ những thứ hạng tương quan sẽ được quyết định bằng cách rút thăm.
    3.7.5.5 Trong cách giai đoạn đấu loại của các giải Vô địch thế giới, Olympic và Quốc tế mở rộng các đấu thủ sẽ được rút thăm vào các nhóm theo thứ bậc xếp hạng, có tính đến sự phân cách càng xa càng tốt đối với Liên đoàn và mỗi thành viên trong nhóm sẽ được đánh số thứ tự theo tŕnh độ từ cao xuống thấp.
    3.7.5.6 Trừ khi trọng tài được ủy quyền làm khác đi c̣n nếu chọn 1 đấu thủ vào đấu ṿng kế tiếp th́ trận đấu cuối cùng sẽ là giữa đấu thủ mang số 1 và số 2, nếu chọn 2 vào đấu ṿng kế tiếp th́ trận đấu cuối cùng sẽ là giữa đấu thủ mang số 2 và 3 vân vân và vân vân.
    3.7.6 Các thể thức thi đấu đồng đội
    3.7.6.1 Thi đấu 5 trận (5 trận đơn). Đội thắng đạt tỷ số áp đảo.
    3.7.6.1.1 Một đội phải gồm có 3 đấu thủ.
    3.7.6.1.2 Thứ tự của trận đấu sẽ là A đấu với X, B đấu với Y và C đấu với Z, A đấu với Y và B đấu với X.
    3.7.6.2 Thi đấu 5 trận (4 trận đơn và 1 trận đôi) Đội thắng đạt tỷ số áp đảo
    3.7.6.2.1 Một đội phải gồm 2, 3 hoặc 4 đấu thủ.
    3.7.6.2.2 Thứ tự của trận đấu sẽ là A đấu với X, B đấu với Y, trận đấu đôi, A đấu với Y và B đấu với X.
    3.7.6.3 Thi đấu 7 trận (6 trận đơn và 1 trậm đôi). Đội thắng đạt tỷ số áp đảo.
    3.7.6.3.1 Một đội phải gồm 3, 4 hoặc 5 đấu thủ.
    3.7.6.3.2 Thứ tự của trận đâu sẽ là A đấu với Y, B đấu với X, C đấu với Z, trận đấu đôi, A đấu với X, C đấu với Y và B đấu với Z.
    3.7.6.4 Thi đấu 9 trận (9 trận đơn). Đội thắng đạt tỷ số áp đảo.
    3.7.6.4.1 Một đội phải gồm 3 đấu thủ.
    3.7.6.4.2 Thứ tự trận đấu sẽ là A đấu với X, B đấu với Y, C đấu với Z, B đấu với X, A đấu với X, C đấu với Y, B đấu với Z, C đấu với X và A đấu với Y.
    3.7.7 Thủ tục trận thi đấu đồng đội.
    3.7.7.1 Tất cả các đấu thủ sẽ được chọn từ những người được đề cử tham gia giải đồng đội.
    3.7.7.2 Trước trận đấu sẽ rút thăm để quyết định quyền chọn đội h́nh A, B, C hay X, Y, Z và các thủ quân sẽ ghi tên đội của ḿnh, ấn định một chữ cho từng đấu thủ đánh các trận đơn rồi đưa cho tổng trọng tài hoặc người đại diện của tổng trọng tài.
    3.7.7.3 Đề cử danh sách cặp đấu trận đôi có thể tới lúc kết thúc của trận đấu đơn ngay trước đó.
    3.7.7.4 Một đấu thủ phải đấu các trận liên tiếp có thể yêu cầu nghỉ nhiều nhất là 5 phút giữa các trận đấu đó.
    3.7.7.5 Trận thi đấu đồng đội sẽ kết thúc khi một đội đă thắng phần lớn các trận đấu cá nhân có thể diễn ra.
    3.7.8 Kết quả
    3.7.8.1 Sau mỗi cuộc thi đấu càng sớm càng tốt và chậm nhất là 7 ngày sau đó Liên đoàn tổ chức phải gửi cho Văn pḥng của Liên đoàn bóng bàn thế giới và Thư kư Liên đoàn Châu lục thích hợp những kết quả chi tiết bao gồm tỷ số điểm của các trận đấu quốc tế, của tất cả các ṿng đấu của giải Vô địch Châu lục, của các giải Quốc tế mở rộng và của những ṿng kết thúc của các Giải vô địch quốc gia.
    3.7.9 Truyền h́nh
    3.7.9.1 Ngoài các cuộc thi danh nghĩa là Vô địch Thế giới, Châu lục hoặc Olympic ra, một giải thi đấu có thể được phát truyền h́nh chỉ khi được phép của Liên đoàn mà truyền h́nh phát trên địa bàn của họ.
    3.7.9.2 Việc tham gia một giải thi đấu quốc tế coi như là sự đồng ư của Liên đoàn đang điều khiển các đấu thủ khách cho phát truyền h́nh giải thi đấu đó; danh nghĩa Vô địch Thế giới, Châu lục hay Olympic th́ sự đồng ư như thế được xem như cho buổi truyền h́nh trực tiếp ở bất cứ nơi nào hoặc ghi h́nh trong thời gian diễn ra giải và trong ṿng 1 tháng sau đó.

    3.8 ĐỦ TƯ CÁCH THI ĐẤU QUỐC TẾ

    3.8.1 Những qui định dưới đây áp dụng cho các cuộc thi danh hiệu Vô địch Thế giới, Vô địch Châu và Vô địch Olympic và cả với những cuộc thi đấu đồng đội của giải Quốc tế mở rộng.
    3.8.2 Một đấu thủ có thể đại diện cho một Liên đoàn chỉ khi đấu thủ là công dân nước mà ở đó Liên đoàn có thẩm quyền, ngoại trừ một đấu thủ đến ngày 31 tháng 8 năm 1997 xét về ngày sinh và nơi cư trú đă có đủ tư cách đại diện cho 1 Liên đoàn mà đấu thủ đó không phải là công dân của họ có thể vẫn c̣n t́nh trạng đủ tư cách đó.
    3.8.2.1 Một đấu thủ mà cùng một lúc là công dân của 2 nước trở lên có thể lựa Liên đoàn nào thích hợp mà ḿnh sẽ đại diện.
    3.8.2.2 Trường hợp các đấu thủ của 2 Liên đoàn trở lên có cùng quốc tịch th́ từng Liên đoàn đó có thể định ra những yêu cầu riêng của ḿnh cho t́nh trạng đủ tư cách.
    3.8.3 Một đấu thủ không được đại diện cho các Liên đoàn khác nhau trong một thời gian 3 năm.
    3.8.4 Một đấu thủ được coi như đại diện cho một Liên đoàn nếu đấu thủ ấy đă nhận sự đề cử đại diện cho Liên đoàn đó, dù có thi đấu hay không; ngày tháng dại diện là ngaỳ tháng đề cử hoặc là ngày tháng thi đấu mà thời gian nào gần đây hơn.
    3.8.5 Một đấu thủ hay Liên đoàn của đấu thủ ấy phải cung cấp chứng cứ t́nh trạng đủ tư cách của ḿnh nếu tổng trọng tài yêu cầu như vậy.
    3.8.6 Một Liên đoàn có thể đề cử một đấu thủ đại diện cho ḿnh, người mà có đủ tư cách đại diện như vậy, nhưng người đó đang cư trú trên lănh thổ kiểm soát của Liên đoàn khác với điều kiện là đấu thủ ấy không bị Liên đoàn đó tạm đ́nh chỉ (treo gị) hay khai trừ.
    3.8.7 Bất cứ kháng nghị nào về vấn đề t́nh trạng đủ tư cách sẽ được tham khảo ư kiến Ban thường vụ và quyết định của Ban này là tối hậu.

    Vừa nghe nhạc vừa đọc típ
    Xem trực tiếp flash này



    Moba.Jugger



  2. #2
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Bài viết
    4.213
    Next Level: 1.787

    KỸ THUẬT CƠ BẢN MÔN BÓNG BÀN

    I. Kỹ thuật cầm vợt.

    1. Tầm quan trọng của cầm vợt.

    Kỹ thuật cầm vợt là một trong những kỹ thuật nhập môn của VĐV bóng bàn. Kỹ thuật cầm vợt tốt có thể nâng cao tính linh hoạt của bàn tay, cánh tay và cổ tay tạo cơ sở tốt cho việc nâng cao kỹ thuật sau này.
    Ngược lại nếu kỹ thuật cầm vợt không tốt th́ không chỉ ảnh hưởng tới linh hoạt của bàn tay, cổ tay mà c̣n làm cho động tác đánh bóng không chuẩn xác ảnh hưởng đến việc nâng cao kỹ thuật và dùng sức khi đánh bóng.
    Chính v́ vậy những AE mới bắt đầu học đánh bóng bàn trước tiên phải học tốt kỹ thuật cầm vợt.

    2. Phương pháp cầm vợt.

    Có 2 phương pháp cầm vợt chính đó là: Cầm vợt dọc và cầm vợt ngang.
    Cầm vợt dọc có ưu điểm là đầy chặn trái tay rất tốt, thuận tiện cho việc đẩy trái công phải, tấn công bóng trong bàn tương đối linh hoạt. Bởi vậy phần lớn mọi người chỉ sử dụng đánh bóng mặt thuận của vợt dọc. Cách cầm vợt này trong khi đánh bóng có thể thực hiện luân phiên giữa thuận tay và trái tay nhanh.Đây là phương pháp cầm vợt truyền thống của Trung Quốc và Nhật Bản.
    Cách cầm vợt ngang thích hợp công bóng hai mặt, cắt bóng, líp bóng ṿng cung trái tay, phạm vi quán xuyến lớn. Đây là phương pháp cầm vợt truyền thống của châu Âu.

    2.1. Cách cầm vợt dọc.

    Giống như khi ta cầm bút viết vậy, ngón cái và ngón trỏ tạo thành h́nh gọng ḱm kẹp chặt vơt, 3 ngón c̣n lạicong tự nhiên và ép sát vào mặt sau của vợt.

    * Cách cầm vợt dọc loại h́nh tấn công nhanh

    Làm cho chuôi vợt áp sát trên ngàm tay (nằm giữa ngón cái và ngón trỏ, sát với bàn tay) cạnh phải của chuôi vợt áp sát vung đốt thứ 3 của ngón trỏ, đốt thứ nhất của ngón cái áp chặt vào vai trái của vợt, đốt thứ 2 của ngón trỏ áp chặt vào vai phải vợt. Khớp thứ nhất của ngón cái và đốt thứ nhất, thứ hai của ngón trỏ tạo thành h́nh gọng ḱm quặp ra phía trước của vợt. Khoảng cách giữa đầu ngón trỏ và ngón cái khoảng 1 -:- 2 cm. Ba ngón c̣n lại gập tự nhiên chồng lên nhau và chống giữ phía sau vợt bằng đốt thứ nhất và thứ hai của ngón giữa.
    Phương pháp caamf vợt này thích hợp cho lối đánh tấn công nhanh bằng vợt mút dán thuận, độ linh hoạt của cổ tay và ngón tay tốt hơn hẳn cách cầm vợt ngang. Khi tấn công thuận tay, ngón tay cái ấn vợt, ngón trỏ thả lỏng, ngón út và ngón vô danh hỗ trợ ngón giữa chống giữ vợt phát lực. Khi đẩy chặn trái tay, ngón trỏ ấn vợt, ngón cái thả lỏng, ngón út và ngón vô danh hỗ trợ ngón giữa chống vợt và phát lực

    * Cách cầm vợt dọc loại h́nh líp bóng.

    Làm cho chuôi vợt áp sát vào ngàm tay, đốt thứ nhất ngón cái và thứ hai ngón trỏ ép khóa vai vợt. Đốt thứ nhất ngón cái áp chặt cạnh trái chuôi vợt ở phía trước, ngón trỏ quặp chặt chuôi vợt và cùng với ngón cái trạo thành ṿng tṛn, 3 ngón c̣n lại hơi duỗi thẳng tự nhiên chồng lên nhau ở sau vợt do đốt thứ nhất của ngón giữa chống giữ sau vợt.
    Cầm vợt loại h́nh này thích hợp với lối đánh loại h́nh líp bóng mặt mút ngược, loại h́nh cầm vợt này dễ cố định, có thể làm cho cẳng tay, bàn tay, cổ tay với bóng tạo thành một đường thẳng, phát huy đầy đủ sức mạnh cổ tay và cẳng tay. Khi líp bóng thuận tay, ngón cái dùng sức ép vào vợt, ngón vô danh và ngón út phối hợp với ngón giữa chống giữ vợt. Khi đẩy chặn bóng, ngón cái thả lỏng, ngón trỏ dùng lực ép vào mặt vợt, ngón vô danh và ngón út cùng hỗ trợ ngón giữa dùng sức chống giữ vợt.

    * Cách cầm vợt dọc cắt bóng.

    Ngón cái cong áp sát bên trái chuôi vợt hơi dùng sức ấn xuống, 4 ngón c̣n lại hơi x̣e ra và duỗi thẳng tự nhiên đỡ phía mặt sau của vợt.
    Cách cầm vợt này thích hợp dùng cho cắt bóng, phạm vi quán xuyến bóng thuận tay và trái tay đều tương đối rộng.
    Khi cắt bóng thuận tay, đưa vợt hơi nghiêng ra sau giảm thiểu lực lao trước của bóng đến, khi cắt bóng trái tay 4 ngón phía sau vợt hơi quặp lại, đầu tiên làm cho chuôi vợt chúc xuống dưới, sau đó vung vợt cắt bóng. Khi tấn công hoặc đẩy chặn bóng cần di chuyển ngón trỏ đến cạnh sau của chuôi vợt đổi thành phương pháp cầm vợt tấn công.

    2.2. Cách cầm vợt ngang.

    Ngón cái cong tự nhiên áp sát chuôi vợt ở phía trước, ngón trỏ ở sau, 3 ngón c̣n lại cầm lấy chuôi vợt một cách tự nhiên.

    * Cách cầm vợt ngang loại h́nh cắt bóng tấn công.

    Ngón cái ở phía trước cong tự nhiên áp sát chuôi vợt, ngón trỏ sau vợt duỗi chếch tự nhiên áp sát mặt vợt, vai vợt đưa nhẹ vào hổ khẩu tay và đốt thứ 2 của ngón giữa. Các ngón khác nắm chuôi vợt một cách tự nhiên.
    Cách cầm vợt loại này thích hợp nhất đối với cách đánh loại h́nh kết hợp cắt bóng với tấn công. Cách cầm vợt đơn giản, mặc dù so với cách cầm vợt dọc th́ tính linh hoạt của bàn tay, ngón tay, cổ tay tuy có bị hạn chế nhất định nhưng dễ phát huy tác dụng xoay ngoài và xoay trong của cánh tay và cổ tay.
    Khi tấn công bóng thuận tay, ngón trỏ có thể hơi di động lên trên tạo thuận lợi cho ép giữ vợt và phát lực. Khi tấn công bóng trái tay và tạt nhanh, ngón cái có thể di chuyển lên trên 1 chút, như vậy sẽ có lợi cho ép vợt và phát lực.
    Khi cắt bóng thuận trái tay, vị trí của các ngón tay về cơ bản không thay đổi.

    * Cách cầm vợt ngang loại h́nh tấn công (đập, vụt)

    Ngón cái duỗi chếch tự nhiên áp sát mặt vợt, ngón trỏ duỗi chếch tự nhiên áp sát phía sau vợt, dùng đốt thứ nhất của ngón trỏ chống giữ vợt, đầu vợt hơi chếch lên trên.
    Cách cầm vợt này thích hợp nhất với cách đánh loại h́nh líp bóng và tấn công nhanh. Nếu so sánh với cách cầm vợt loại h́nh cắt bóng tấn công th́ cách cầm vợt này tương đối ổn định.
    Lưu ư là trong cách cầm vợt ngang lại có thể phân ra thành cầm sâu và cầm nông. Người cầm vợt mà hổ khẩu tay nằm sát vai vợt là cầm sâu và ngược lại là cầm nông.
    Ưu điểm của cầm nông là cổ tay và bàn tay linh hoạt, thuận lợi hơn cho xử lư bóng trong bàn (bóng ngắn), nghĩa là có thể dùng líp bóng, cũng có thể dùng phương pháp gơ vẩy ngắn để đánh trả. Khi tấn công dễ bị đánh bóng thấp, kết hợp phải trái tương đối linh hoạt. Khi cắt, g̣ bóng, phát bóng dễ đánh bóng xoáy biến đổi, đối phương khó mà phân biệt được. Nhưng có nhược điểm là khi tấn công toàn bộ lực tập trung vào bàn tay nên có ảnh hưởng nhất định tới khả năng phát lực. Khi cắt bóng mặt vợt không dễ dàng cố đinh được nên khó khống chế động ṿng cung của cắt bóng.
    Ưu điểm của cách cách cầm vợt sâu là góc độ mặt vợt tương đối cố định, khi tấn công phát lực được tập trung nên có lợi cho việc tăng thêm sức mạnh đánh bóng, líp bóng cũng tương đối xoáy, cắt bóng cũng dễ khống chế và tạo được độ xoáy tương đối. Nhược điểm là do cầm vợt chặt, cổ tay không linh hoạt. Khi đối công tính linh hoạt phối hợp phải, trái hơi kém, xử lư bóng trong bàn tương đối khó khăn, biến đổi xoáy dễ bị phát hiện và đối phó.

    3. Những vấn đề cần lưu ư trong cách cầm vợt.

    - Với những AE mới tập bóng bàn th́ phương pháp cầm vợt cần ổn định, không nên thay đổi một cách quá dễ dàng cách cầm vợt để đảm bảo cho động tác đánh bóng ổn định.
    - Cầm vợt không nên quá chặt hoặc quá lỏng , cầm quá chặt sẽ ảnh hưởng tới tính linh hoạt của cổ tay và ngón tay khi đánh bóng, quá lỏng sẽ ảnh hưởng tới sức mạnh đánh bóng và tỷ lệ bóng vào bàn suy giảm.
    - Dựa vào sự yêu thích và đặc điểm kỹ thuật của bản thân mà chọn phương pháp cầm vợt thích hợp. Ví dụ thích đánh tấn công gần bàn nên chọn cầm vợt dọc, thích đánh líp bóng thuận, trái tay th́ tốt nhất là chọn cách cầm vợt ngang… Tốt hơn hết nếu có điều kiện AE mới học chơi bóng bàn khi chọn và học cách cầm vợt nên có sự chỉ dẫn của HLV bóng bàn.

    4. Không thể coi nhẹ tác dụng của tay không cầm vợt.

    Khi nghiên cứu về phương pháp cầm vợt th́ không thể coi nhẹ tác dụng của tay không cầm vợt trong môn bóng bàn. Tay không cầm vợt ngoài việc có thể duy tŕ thăng bằng cơ thể ra c̣n phải biết phối hợp vung tay nhịp nhàng, hợp lư với tay cầm vợt để nâng cao được tốc độ vung vợt, tăng cường sức mạnh

    II. Lựa chọn vị trí đứng.

    1. Tầm quan trọng của vị trí đứng.

    Vị trí đứng của VĐV là vị trí đứng phù hợp với đặc điểm đánh bong của ḿnh, trước khi đánh bong chọn được vị trí đứng chính xác sẽ có thể phát huy tốt hơn sở trường kỹ thuật của ḿnh, bù đắp vào chỗ khiếm khuyết về kỹ thuật, đồng thời đạt được phạm vi quán xuyến bong tương đối toàn diện.

    2. Phương pháp chọn vị trí đứng.

    Căn cứ vào cự ly giữa VĐV với bàn bong mà có thể chia vị trí đứng ra thành: Đứng gần bàn, đứng trung b́nh và đứng xa bàn. Trong đứng trung b́nh lại chia thành: trung b́nh gần và trung b́nh xa.
    Đứng gần bàn là vị trí đứng của VĐV cách bàn bóng khoảng 0,5m
    Đứng trung b́nh gần bàn là vị trí đứng của VĐV cách bàn bóng khoảng 0,7m
    Đứng xa bàn là vị trí đứng của VĐV cách bàn bóng trên 1m.
    Đứng trung b́nh xa bàn là vị trí đứng của VĐV cách bàn bóng khoảng 1m.
    Vị trí đứng của VĐV bóng bàn cần căn cứ vào loại h́nh cách đánh, đặc điểm kỹ thuật cá nhân khác nhau mà xác định để có lợi nhất cho việc phát huy sở trường kỹ thuật của ḿnh.
    - Vị trí đứng cơ bản của cách đánh đẩy trái công phải ở người cầm vợt dọc nên ở khu vực trung b́nh gần hơi lệch trái, cách bàn khoảng trên dưới 40cm, nói chung chân trái hơi ra trước, chân phải ở phía sau.
    - Vị trí đứng cơ bản của cách đánh tấn công 2 mặt nên ở giữa khu vực gần bàn, cách bàn khoảng trên dưới 50cm, nói chung chân trái hơi ra trước, chân phải hơi ra sau.
    - Vị trí đứng cơ bản của cách đánh lấy líp bóng làm chính nên hơi lệch trái ở cự ly trung b́nh hoặc trung b́nh gần.
    - Vị trí đứng cơ bản của cách đánh lấy cắt công ở người đánh vợt ngang đứng ở khu vực cự ly trung b́nh gần.
    - Vị trí đứng cơ bản của cách đánh lấy cắt bóng là chính đứng ở khu vực cự ly trung b́nh xa.
    Lưu ư:
    Các vị trí đứng cơ bản nói trên là vị trí đứng khi chuẩn bị đánh trả bóng đối phương đánh sang nói chung.

    Trong thực tế thi đấu, VĐV cần căn cứ vào độ gần xa và phương hướng vị trí bóng đến, di động tới vị trí của ḿnh mới có thể dùng phương pháp tay chuẩn xác đánh trả các loại bóng đến khác nhau.

    3. Tư thế đứng.

    Vị trí đứng chính xác của VĐV bóng bàn c̣n phải cần phối hợp với tư thế đứng chính xác. Tư thế đứng chính xác không chỉ có lợi cho xuất phát nhanh mà c̣n quán xuyến được toàn bàn bóng, đồng thời c̣n có lợi cho VĐV kịp thời sử dụng các loại kỹ thuật đánh trả bóng đến.
    Tư thế chuẩn bị đánh trả các loại bóng đến của đối phương (gọi tắt là tư thế chuẩn bị) là: Hai chân dang rộng hơn vai, hai gối hơi khuỵ, kiễng gót, cạnh trong phía mũi bàn chân chạm đất, trọng tâm cơ thể rơi vào giữa hai chân, thân người hơi ngả về phía trước, hóp bụng, ngực. Tay cầm vợt co tự nhiên.
    Đối với VĐV cầm vợt dọc, khuỷ tay hơi khuỳnh ra ngoài, vợt đặt phía trước bên phải bụng, cổ tay thả lỏng tự nhiên, tay không cầm vợt co tự nhiên ở phía trái cạnh thân, mắt nh́n chú ư vào bóng đến.
    Đối với VĐV cầm vợt ngang, vợt đặt phía trước bên phải bụng, , khuỷ tay cầm vợt chúc xuống,cổ tay thả lỏng tự nhiên, tay không cầm vợt co tự nhiên phía trái thân, mắt chăm chú nh́n vào bóng đến.
    Chú ư: Trong tư thế chuẩn bị của cả VĐV vợt dọc và vợt ngang th́ bàn tay, cánh tay, cẳng tay và cổ tay phải thả lỏng tự nhiên tạo thuận lợi cho phát lực đánh bóng.

    III. KỸ THUẬT ĐÁNH BÓNG.

    1. Kỹ thuật giao bóng.

    Giao bóng là kỹ thuật duy nhất hoàn toàn phụ thuộc vào ư trí của VĐV mà không chịu sự tác động của đối phương trong việc lựa chọn vị trí đứng, dùng sức mạnh, tốc độ, độ xoay, đường bóng… để đánh bóng đến bất kỳ vị trí nào trên mặt bàn của đối phương. Nếu VĐV phát bóng có chất lượng cao có thể tạo ra cơ hội thuận lợi cho tấn công dứt điểm, thậm chí có thể giành điểm trực tiếp.
    Dựa vào vị trí đánh bóng có thể chia giao bóng thành giao bóng thuận tay, giao bóng trái tay, giao bóng nghiêng người và giao bóng kiểu ngồi xổm.
    Dựa vào độ cao tung bóng có thể chia thành giao bóng tung bóng cao và giao bóng tung bóng thấp.
    Dựa vào đặc điểm của quả giao bóng có thể chia thành giao bóng lấy tốc độ là chính, giao bóng lấy độ xoáy làm chính, giao bóng lấy điểm rơi là chính.
    V́ vậy mỗi VĐV cần phải tập tốt một hoặc hai loại giao bóng sở trường khác nhau để có thể phối hợp với cách đánh của ḿnh giành chủ động trong thi đấu.

    a. Kỹ thuật giao bóng tung bóng thấp.

    * Kỹ thuật giao bóng đánh ngang bóng.

    - Đặc điểm:

    Tốc độ bóng b́nh thường, cơ bản bóng xoáy ít hoặc không xoáy. Đây là kỹ thuật nền tảng để nắm vững các kỹ thuật giao bóng phức tạp khác, v́ vậy AE bắt đầu học đánh bóng bàn trước hết cần học và nắm bắt thật tốt kỹ thuật giao bóng này.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Vị trí đứng ở cự ly trung b́nh so với bàn hoặc hơi lệch phải, thân người cách mép bàn khoảng 35cm, hai chân đứng tách sang 2 bên hơi rộng hơn vai, chân trái hơi ra trước, trọng tâm rơi vào giữa hai chân, thân trên hơi xoay sang phải, tay trái đỡ bóng ở phía trước bên phải thân. Sau đó tay trái tung bóng nhẹ nhàng lên trên không, đồng thời tay phải đưa vợt ra phía sau bên phải và làm cho mặt vợt hơi nghiêng ra trước. Khi bóng rơi xuống ở độ cao cao hơn mặt lưới th́ đưa vợt theo hướng từ sau ra trước, sang trái và đánh vào phần giữa trên của bóng sao cho điểm rơi chạm bóng thứ nhất vào khoảng giữa bàn của ḿnh bật sang bàn đối phương. Sau khi bóng được đánh đi, tay phải theo đà vung ra phía trước sang trái. Trong quá tŕnh giao bóng trọng tâm cơ thể chuyển dần từ chân phải sang chân trái.

    * Kỹ thuật giao bóng nhanh thuận tay.

    - Đặc điểm:

    Tốc độ bóng nhanh, đường ṿng cung thấp, điểm rơi xa, đường bóng đi có độ xoáy lên hoặc xoáy lên bên phải tương đối mạnh. Đây là một trong những kỹ thuật giao bóng mà vận động viên loại h́nh tấn công thường dùng. Sau khi chạm bàn, bóng sẽ lao trước đồng thời quẹo sang phải, khi đối phương đánh trả dễ bị hụt bóng hoặc đánh bóng lền cao.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Vị trí đứng ở bên phải gần mép bàn, thân người cách mép bàn khoảng 35cm, hai chân đứng tách sang 2 bên hơi rộng hơn vai, chân trái hơi ra trước, chân phải hơi xoay sang phải. Tay trái nâng bóng lên ở bên phải trước bụng, tay phải cầm vợt cũng ở bên phải thân người, tay trái nhẹ nhàng tung bóng lên, tay phải cầm vợt đưa ra phía sau bên phải. Đợi khi bóng rơi xuống, cẳng tay nhanh chóng vung vợt ra trước, làm cho mặt vợt hơi nghiêng ra trước, đánh vào phần trên giữa của bóng đồng thời tạo ma sát của vợt vào phía trên phải của bóng. Sau khi đánh vào bóng theo đà cẳng tay và cổ tay vung ra trước.
    Điểm chạm bóng bên bàn ḿnh nên cố gắng ở gần đường mép đầu bàn. Trong quá tŕnh giao bóng trọng tâm cơ thể chuyển dần từ chân trái sang chân phải.

    * Kỹ thuật giao bóng nhanh trái tay.

    - Đặc điểm:

    Tốc độ bóng nhanh, đường ṿng cung thấp, điểm rơi xa, lực lao lớn, đường bóng đi có độ xoáy lên hoặc xoáy lên bên phải tương đối mạnh. Đây là một trong những kỹ thuật giao bóng mà vận động viên loại h́nh tấn công thường dùng.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Vị trí đứng ở bên trái gần mép bàn, thân người cách mép bàn khoảng 35cm, hai chân đứng tách sang 2 bên hơi rộng hơn vai, chân phải hơi ra trước, thân người hơi xoay sang trái. Tay trái nhẹ nhàng tung bóng lên, tay phải cầm vợt đưa ra phía sau bên trái. Đợi khi bóng rơi xuống, cẳng tay nhanh chóng vung vợt ra trước bên phải, làm cho mặt vợt hơi nghiêng ra trước, đánh vào phần trên giữa của bóng đồng thời tạo ma sát vào bóng theo hướng lên trên. Sau khi đánh vào bóng theo đà cẳng tay và cổ tay vung ra trước.
    Để tăng tốc độ vung vợt, trong giây lát tiếp xúc đánh vào bóng cần có sự phối hợp nhịp nhàng sự xoay chuyển của lườn và thân trên.

    * Kỹ thuật giao bóng xoáy xuống nhanh trái tay.

    - Đặc điểm:

    Tốc độ bóng nhanh, đường ṿng cung thấp, điểm rơi xa. Khi đối phương đánh trả không dễ dùng sức mạnh đánh bóng được nên tốc độ đánh trả bóng chậm, đồng thời dễ đánh bóng lên cao. V́ vậy sau khi giao quả này dễ cướp tấn công hoặc giành được thế chủ động.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Giống với kỹ thuật giao bóng nhanh trái tay, sự khác biệt ở đây là vị trí vợt trước khi giao bóng tương đối cao, đợi khi bóng rơi xuống, vợt sẽ vung từ phía trên đằng sau ra phía dưới đằng trước làm cho mặt vợt ngửa sau, đánh vào phần giữa dưới của bóng đồng thời có sự cọ sát của vợt vào bóngtheo hướng xuống dưới đằng trước. Điểm đánh vào bóng nói chung hơi thấp hơn mặt lưới. Điểm chạm bóng bàn ḿnh nên áp sát đường vạch đầu bàn.

    * Kỹ thuật giao bóng ngắn trái tay.

    - Đặc điểm:

    Sức mạnh yếu, đường bóng ngắn, điểm rơi gần lưới, bóng không xoáy hoặc xoáy yếu buộc đối phương phải di chuyển lên sát bàn đỡ bóng, đồng thời đối phương không dễ dùng sức để tấn công. Nếu như đối phương dùng g̣ bóng để đánh trả dễ đánh thành bóng cao. Kiểu giao này thích hợp nhất là sử dụng phối hợp với giao bóng nhanh làm cho đối phương phải chạy ngược chạy xuôi, lên xuống.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Tư thế chuẩn bị cần giống hết mức với giao bóng nhanh. Nhưng khi đánh vào bóng mặt vợt hơi ngửa ra sau, dùng cẳng tay và cổ tay liệng vợt ra trước đánh nhẹ vào phần dưới giữa của bóng. Độ cao điểm đánh bóng xấp xỉ ngang bằng với độ cao mặt lưới. Điểm chạm bàn bên ḿnh tốt nhất là ở khu vực giữa của bàn.

    * Kỹ thuật giao bóng xoáy nghiêng trái lên (xuống) thuận tay.

    - Đặc điểm:

    Có độ xoay nghiêng trái lên hoặc xoay nghiêng trái xuống tương đối mạnh. Trong quá tŕnh bay của bóng có hướng quẹo phải… Phương pháp tay khi giao bóng cần cố gắng thực hiện giống với giao bóng giữa xoay nghiêng lên và xoay nghiêng xuống làm cho đối phương khó nhận biết được hướng xoáy của bóng dẫn tới đánh bóng chúc lưới hoặc bóng bổng thậm chí có thể làm cho bóng bắn mạnh sang bên trái ra ngoài bàn.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Vị trí đứng áp sát gần bàn phía bên phải, thân người cách bàn khoảng 35cm, chân trái hơi ra trước, thân trên hơi xoay sang phải. Tay trái giữ bóng ở bên phải trước bụng áp sát đầu bàn bóng, tay phải cầm vợt ở bên phải thân người. Cùng lúc với tay trái tung bóng th́ tay phải đưa vợt lên phía trên bên phải, đợi khi bóng rơi xuống độ cao ngang mặt lưới th́ tay cầm vợt vung nhanh xuống phía dưới sang trái đánh vào bóng. Nếu giao bóng xoáy nghiêng xoáy lên, trong giây lát vợt tiếp xúc bóng, cổ tay xoay nhanh lên trân bên trái làm cho vợt đánh vào phần giữa bóng và ma sát vào bóng theo hướng lên trên sang trái. Sau khi đánh bóng tay vung lên theo đà lên phía trên bên trái. Nếu muốn giao bóng xoáy nghiêng xoáy xuống sang trái, trong giây lát vợt tiếp xúc bóng cổ tay xoay nhanh sang trái và xuống dưới, làm cho vợt đánh vào phần giữa bóng và ma sát vào bóng theo hướng xuống dưới bên trái. Sau khi bóng rời khỏi vợt, vợt cần vung lên trên và sang trái để động tác giống với giao bóng xoáy nghiêng xoáy xuống.

    * Kỹ thuật giao bóng xoáy nghiêng xoáy lên (xoáy xuống) bên phải trái tay.

    - Đặc điểm:

    Có độ xoáy nghiêng xoáy lên bên phải hoặc xoáy nghiêng xoáy xuống bên phải tương đối mạnh. Trong quá tŕnh bay trong khồng trung bóng có hướng quẹo sang trái. Khi giao bóng thủ pháp thực hiện cần giống nhau để đối phương khó nhận biết được phương hướng xoáy của bóng làm cho khi đánh trả dễ đánh bóng cao hoặc chúc lưới thậm chí có thể làm cho bóng bắn mạnh lệch sang phía bên phải (có thể ra ngoài).

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Vị trí đứng ở phía bên trái gần bàn, thân người cách bàn khoảng 35cm, chân phải lệch ra trước, thân người hơi quay sang trái, hóp bụng. Tay trái giữ bóng ở phía trước bên trái bụng áp vào gần mép cuối bàn. Tay phải cầm vợt ở phía trái cơ thể. Khi tay trái tung bóng, tay phải đưa vợt lên phía trên bên trái làm cho chuôi vợt hướng xuống phía dưới bên phải. Đợi khi bóng rơi xuống đến độ cao ngang mặt lưới th́ cổ tay và cẳng tay vung xuống dưới sang phải đánh bóng. Nếu muốn giao bóng xoáy nghiêng xoáy lên bên phải th́ trong giây lát vợt tiếp xúc bóng cổ tay xoay lên trên bên phải, làm cho vợt đánh vào phần giữa của bóng đồng thời tạo ma sát vào bóng theo hướng lwn trên và sang phải. Sau khi đánh vào bóng vung vợt theo đà lên phía trên bên phải. Nếu muốn giao bóng xoáy nghiêng xuống dưới bên phải th́ trong giây lát vợt tiếp xúc bóng cổ tay xoay xuống dưới bên phải làm cho vợt đánh vào phần giữa của bóng, đồng thời tạo ma sát vào bóng theo hướng xuống dưới và sang phải. Sau khi bóng rời khỏi vợt, vợt cần lập tức vung lên phía trên bên phải để tạo ra động tác giống như khi giao bóng xoáy nghiêng xoáy lên bên phải.

    * Kỹ thuật giao bóng xoáy xuống “ xoáy và không xoáy” thuận tay.

    - Đặc điểm:

    Đây là một kiểu kỹ thuật giao bóng xoáy xuốgn có thêm xoáy và không xoáy. Hai loại xoáy và không xoáy có tốc độ xoáy khác nhau rất lớn. Đối phương rất khó nhận biết được tốc độ xoáy của bóng, khi đánh trả dễ bị bóng cao hoặc đánh bóng ra ngoài, đánh bóng chúc lưới.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Vị trí đứng ở khoảng giữa hoặc hơi lệch trái cách bàn khoảng 40cm, người hơi quay ra sau. Chân trái đứng hơi ra trước, tay trái giữ bóng ở phía trước bụng hơi lệch phải đồng thời áp gần mép ngang cuối bàn. Tay phải cầm vợt bên phải thân. Tay trái tung bóng lên nhẹ nhàng đồng thời tay phải đưa vợt ra phía sauvà lên trên, mặt vợt hơi ngửa sau. Khi bóng rơi xuống đến độ cao ngang mặt lưới th́ cẳng tay nhanh chóng vung vợt ra trước, xuống dưới đánh bóng. Nếu giao bóng có thêm độ xoáy của bóng th́ trong giây lát vợt tiếp xúc bóng, cẳng tay xoay ra ngoài kéo theo cổ tay dùng lực miết xuống phía dưới má sát vào phần dưới giữa bóng. Sau khi đánh vào bóng, vung vợt theo đà xuống phía dưới trước bên trái. Nếu không muốn thêm độ xoáy của bóng th́ trong giây lát vợt tiếp xúc vào bóng, không cần dùng sức quay cổ tay, mặt vợt sẽ trực tiếp đánh ra trước vào phần giữa của bóng để giảm bớt sức mạnh ma sát xuống dưới vào bóng. Đợi sau khi bóng rời khỏi vợt, cẳng tay nhanh chóng xoay ngoài, kéo theo xoay cổ tay đồng thời vung nhanh vợt xuống phía dưới trước bên phải tạo cảm nhận sai cho đối phương.
    Kỹ thuật giao bóng xoáy xuống “xoáy và không xoáy” thuận tay cũng có thể được vận dụng trong giao bóng trái tay (đặc biệt là vợt ngang). Chỉ cần VĐV tập luyện được thành thạo được kỹ thuật giao bóng xoáy xuống “xoáy và không xoáy” thuận tay th́ sẽ nắm bắt rất nhanh kỹ thuật giao bóng xoáy xuống “xoáy và không xoáy” trái tay.

    * Kỹ thuật giao bóng thuận tay nghiêng người.

    - Đặc điểm:

    Vị trí đứng giao bóng lệch hẳn ở góc trái (góc ngoài bên trái của bàn bóng), rất có lợi cho cướp tấn công thuận tay sau khi giao bóng.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Các cách giao bóng thuận tay đă tŕnh bày ở các phần trước đều có thể vận dụng trong cách giao bóng thuận tay nghiêng người.
    Điểm khác nhau ở đây là do vị trí đứng lệch hẳn sang trái nên chân trái đứng hẳn ra trước, thân trên quay lệch sang bên phải và trục vai gần như vuông góc với bàn. Động tác tay đánh bóng cơ bản giống với các loại giao bóng thuận tay.
    Muốn nắm bắt được kỹ thuật này chỉ cần nắm vững các kỹ thuật giao bóng thuận tay đă tŕnh bày ở trên.........
    b. Kỹ thuật giao bóng tung bóng cao.

    - Đặc điểm:

    Khi tung bóng cao, độ cao bóng đạt tư 2-3m hoặc cao hơn sẽ tạo ra tốc độ bóng rơi xuống nhanh, lực tổng hợp lớn (tăng lứon hơn lực tác dụng giữa vợt với bóng khi tung bóng thấp). Khi thức hiện kỹ thuật giao bóng nhanh, tốc độ xoáy mạnh lại thêm vào thời gian bóng rơi xuống dài, nhịp độ đánh bóng khác với b́nh thường, dễ làm phân tán độ chú ư của đối phương nên độ khó khi đánh trả tương đối lớn.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Phần lớn đứng ở vị trí giao bóng nghiêng người ở ngoài góc trái bàn hoặc cũng có thể đứng ở nửa phần bàn bên trái, chân trái hới ra trước, thân trên xoay sang phải một góc khoảng 90 độ. Tay trái nâng bóng hơi cao hơn mặt bàn, dùng sức của cẳng tay là chính để tung bóng lên độ cao khoảng 2-3m hoặc cao hơn, cần cố gắng hết sức khi tung bóng sao cho đường bóng khi tung lên không lệch so với trục thẳng đứng. Các động tác khác khi giao bóng cũng giống như các động tác cơ bản của giao bóng xoáy lên (xoáy xuống) bên trái (thuận tay).
    Có điều khi bóng được tung lên cao nên thời gian bóng rơi xuống dài, do đó tay cầm vợt có thể kéo dài hơn cự ly đưa ra sau và vung vợt đánh bóng.


    c. Kỹ thuật giao bóng kiểu ngồi xổm.

    - Đặc điểm:

    Do tư thế giao bóng ngồi xổm, vị trí đánh bóng ở từ phần vai trở lên nên gọi là giao bóng trên tay. Do vị trí cơ thể khi đánh vào bóng không giống với giao bóng dưới tay nói chung nên đặc điểm bật lên ở mặt bàn và lực bật trở lại trên mặt vợt đối phương của bóng có hướng khác với giao bóng dưới tay, dễ làm cho đối phương đánh bóng hỏng ho********** bóng cao.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Vị trí đứng ở khu vực giữa hoặc lệch trái gần bàn, chân trái hơi đứng ra trước hoặc đứng ngang bằng chân (so với đường mép đầu bàn bóng). Thân trên hơi xoay sang phải, tay trái giữ bóng đặt ở phía trước bên phải thân người. Tay phải cầm vợt để ở bên cạnh phải của thân, tư thế cơ bản sau khi tung bóng có hai kiểu:

    + Kiểu thứ nhất: Lúc đầu tung bóng lên ở tư thế đứng thẳng, sau đó ngồi xổm thấp xuống để đánh bóng.

    + Kiểu thức hai: Bắt đầu bằng tư thế ngồi xổm cao, sau đó mới tung bóng lên và đánh bóng.

    Khi giao bóng xoáy nghiêng phải xoáy lên thuận tay kiểu ngồi xổm th́ sau khi tung bóng, tay phải giơ lên trên cao hơn vai làm cho mặt vợt hơi lệch sang trái, đợi khi bóng rơi xuống đến độ cao ngang bằng hoặc hơi cao hơn mặt lưới khoảng 15-20cm th́ tay phải vung vợt từ bên trái lên trên ra phía trước bên phải đánh vào phần giữa bóng, đồng thời khéo léo dùng sức ma sát vào bóng theo hướng lên trên bên phải. Điểm chạm bàn bên ḿnh nên ở giữa bàn. Sau khi đánh bóng cánh tay vung theo đà ra trước sang phải đồng thời nhanh chóng đứng lên về tư thế chuẩn bị đón bóng đối phương trả giao bóng.
    Động tác giao bóng xoáy nghiêng xoáy xuống bên trái thuận tay trên cơ bản cũng giống với giao bóng xoáy nghiêng xoáy lên bên phải thuận tay. Chỗ khác biệt là khi bóng rơi từ trên cao xuống ở độ cao cao hơn mặt lưới th́ đánh vào phần giữa dưới của bóng, đồng thời ma sát vào bóng theo hướng phía dưới bên phải.

    Kiểu ngồi xổm cũng có thể giao bóng trái tay nhưng trong thi đấu chính thức không nên sử dụng nhiều. Nếu AE có hứng thú với loại giao bóng trái tay này có thể trên cơ sở tập luyện tốt giao bóng thuận tay sẽ có thể tập luyện kiểu giao bóng trái tay.

    2. Kỹ thuật đỡ giao bóng.

    Đỡ giao bóng là một trong 3 kỹ thuật quan trọng hàng đầu đối với mỗi vận động viên môn bóng bàn. Do kỹ thuật giao bóng hiện đại ngày nay phát triển nhanh chóng, ngày càng nhiều chủng loại đă làm tăng độ khó của kỹ thuật đỡ giao bóng lên rất nhiều.
    Trong mỗi hiệp thi đấu bóng bàn, đơ giao bóng cũng giống với giao bóng. Nếu đỡ giao bóng không tốt th́ không những có thể mất điểm trực tiếp hoặc tạo ra cơ hội tấn công cho đối phương mà c̣n khó có thể phát huy được kỹ chiến thuật của bản thân, làm cho bản thân dễ xuất hiện tâm lư căng thẳng và sợ sệt, từ đó thất bại là lẽ đương nhiên. Ngược lại, nếu như nắm vững được kỹ thuật đỡ giao bóng th́ có thể biến đổi từ bị động sang chủ động tạo đà cho thi đấu tốt trong mỗi ván đấu.

    a. Chuẩn bị đỡ giao bóng.

    Muốn đỡ giao bóng tốt, trước hết cần phải phải lựa chọn tốt được vị trí đứng. Nếu như đối phương đứng giao bóng ở góc phải của bàn bóngth́ có thể giao bóng đến vị trí trái tay hoặc cũng có thể đến bên phải của bàn ḿnh, th́ vị trí đứng đỡ giao bóng tốt nhất nên ở khu vực giữa hoặc lệch sang bên phải một chút.
    Nếu như đối phương đứng giao bóng ở vị trí góc trái của bàn bóng th́ có thể giao bóng đến vị trí tay phải hoặc cũng có thể đến bên trái của bàn ḿnh, th́ vị trí đứng đỡ giao bóng nên ở khu vực giữa bàn hoặc lệch sang bên trái một chút.
    Nếu đối phương giao bóng ở khoảng giữa bàn th́ vị trí đứng của đơ giao bóng cũng không nên quá lệch sang một bên.
    Ngoài ra c̣n cần dựa vào đặc điểm cách đánh, sở trường kỹ thuật và thói quen về vị trí đứng của ḿnh để sử dụng vị trí đứng xa, gần hoặc trung b́nh cho phù hợp trong khi đối phó với cách giao bóng dài hoặc ngắn.

    * Phán đoán bóng đến.

    Muốn đỡ giao bóng tốt cần phải phán đoán tương đối chính xác độ xoáy, tốc độ, sức mạnh, điểm rơi, độ cao của bóng đến mới có thể sử dụng phương pháp đánh trả cho chính xác, phù hợp với đặc điểm tính năng của bóng đến.

    - Dựa vào phương hướng vung vợt và góc độ mặt vợt của đối phương để phán đoán đường bay của bóng đến. Nếu mặt vợt của đối phương nghiêng, đồng thời vung vợt nghiêng ra trước th́ bóng phát ra nhất định là bóng đường chéo, ngược lại nếu mặt vợt của đối phương hướng ra trước theo hướng thẳng th́ bóng phát ra nhất định là bóng đường thẳng.

    - Từ phương hướng vung vợt và ma sát vào bóng trong giây lát đối phương đánh vào bóng để phán đoán phương hướng xoáy của bóng đánh sang. Ví dụ, nếu vung vợt và ma sát bóng từ trên xuống dưới là xoáy lên, vung vợt và ma sát với bóng từ trái sang phải là xoáy nghiêng bên phải…v.v. Nhưng cũng cần chú ư là không nên bị mê hoặc bởi động tác giả của đối phương trước và sau khi đánh vào bóng.

    - Phán đoán cường độ, tốc độ, đọ xa gần của điểm rơi từ mức độ lớn nhỏ của tốc độ vung vợt trong giây lát đánh vào bóng và độ “dày”, “mỏng” khi cắt bóng của đối phương. Nói chung tốc độ vung vợt nhanh lại cắt bóng “mỏng” đều là bóng có thêm độ xoáy.

    Có những vận động viên giỏi về khả năng giao bóng, khi giao bóng nhanh gấp lúc đầu tốc độ vung vợt cố ư làm chậm nhưng khi đến thời điểm vợt tiếp xúc bóng, cổ tay đột ngột phát lực lắc mạnh làm cho tốc độ bóng đi nhanh, bên đơ giao bóng có thể bị đối phương lừa bởi động tác chậm trước khi vợt tiếp xúc bóng nên trở tay không kịp.

    - Phán đoán điểm rơi của bóng đánh sang từ vị trí điểm rơi bóng bên bàn đối phương và độ ṿng cung của bóng khi đối phương giao bóng. Nếu điểm rơi lần thứ nhất khi giao bóng gần lưới hoặc đường ṿng cung của bóng đánh sang có điểm cao nhất định (đỉnh cao của ṿng cung) ở trên khoảng không của bàn đối phương hoặc gần lưới, th́ điểm rơi của bóng đánh sang tất nhiên sẽ gần lưới. Ngược lại, nếu như điểm rơi lần thứ nhất ở gần đầu bàn đối phương đồng thời điểm cao của đường ṿng cung lại ở trên khoảng không cảu mặt lưới th́ điểm rơi của bóng sẽ xa.

    - Phán đoán cường độ xoáy của bóng từ tốc độ vung vợt và âm thanh phát ra khi vợt đánh vào bóng của đối phương (nghe âm thanh mà phán đoán cường độ bóng xoáy đă có 1 topic tranh luận rất sôi nổi bên TTVNOL, topic đó bây giờ MOD đă đóng rồi, AE nào có hứng thú th́ tham khảo thêm nhé). Ví dụ, tốc độ vung vợt trong thời điểm đánh vào bóng nhanh, nhưng âm thanh phát ra nhẹ th́ bóng đánh sang sẽ rất xoáy. Ngược lại nếu âm thanh phát ra khi đánh vào bóng to, chắc th́ độ xoáy của bóng đánh sang sẽ không xoáy hoặc xoáy yếu.

    Ngoài ra c̣n có một số phương pháp khác bổ trợ để phán đoán tính năng, đặc điểm cảu bóng khi đánh sang như quan sát đường ṿng cung bay và h́nh dạng của nó để phán đoán phương hướng và cường độ xoáy của bóng đánh sang, bản năng, kinh nghiệm thi đấu…Vấn đề này cần dựa vào sự nhận biết và lư giải được tính chất của các loại bóng xoáy, h́nh dạng đường bay ṿng cung của vận động viên. Người tập cần phải thông qua quá tŕnh tập luyện lâu dài kết hợp kiểm nghiệm trong thực tế để nâng cao tŕnh độ cho ḿnh.

    b. Phương pháp đỡ giao bóng.

    Phương pháp cơ bản của đỡ giao bóng gồm có: Giật bóng, công bóng, tạt bóng, vuốt bóng, g̣ bóng, cắt bóng, đẩy bóng, chặn bóng, đập nhỏ, bỏ nhỏ.

    * Đỡ giao bóng nhanh thuận tay và trái tay.

    V́ tốc độ bóng đánh sang nhanh, đường ṿng cung thấp, điểm rơi xa, xung lực (lực lao) lớn lại có thêm độ xoáy lên nên bóng đi nhanh, góc độ lớn ở bên trái thường không kịp né thân đánh trả. V́ vậy nên thường dùng đẩy chặn trái tay hoặc đánh trả giật nhanh hoặc công nhanh thuận tay. Khi dùng cắt bóng đánh trả nên lùi ra sau một chút, đợi cho tốc độ bóng đánh sang chậm lại một chút sẽ đánh trả sẽ tương đối chắc chắn hơn.

    * Đỡ giao bóng xoáy xuống nhanh.

    Do bóng đánh sang có tốc độ nhanh, điểm rơi xa lại xoáy xuống, khi đánh trả rất dễ chúc lưới, v́ vậy khi đẩy hoặc công bóng đánh trả nên làm cho mặt vợt hơi ngửa ra sau, đồng thời tăng thêm lực lên trên thích đáng. Khi đánh trả bằng g̣ bóng, cắt bóng nếu tốc độ bóng đánh sang nhanh nhưng cường độ xoáy xuống không lớn th́ góc độ mặt vợt không nên quá ngửa sau và điểm tiếp xúc với bóng khi đánh trả nên vào phần giữa bóng đồng thời tăng thêm sức ma sát bóng xuống dưới.

    * Đỡ giao bóng xoáy xuống “xoáy và không xoáy”

    Trước hết cần phán đoán chuẩn xác độ xoáy của bóng đánh sang.

    - Đối với bóng xoáy xuống có thêm độ xoáy th́ có thể dùng g̣ bóng để đỡ trả bóng, đồng thời mặt vợt phải ngửa ra sau và dùng sức ra trước nhiều hơn một chút để “xúc” bóng lên. Nếu dùng giật hoặc líp bóng để đánh trả th́ cần tăng sức mạnh kéo nâng lên trên.

    - Đối với bóng xoáy xuống “không xoáy” có thể dùng đẩy chặn hoặc công bóng để đánh trả. Nhưng do phần lớn bóng loại này thường có kèm theo xoáy xuống nhẹ, v́ vậy khi đánh trả th́ góc độ mặt vợt có thể hơi ngửa ra sau (hoặc không nên nghiêng ra trước nhiều) đồng thời tăng thêm lực hướng lên trên thích đáng.

    * Đỡ giao bóng ngắn.

    Do loại giao bóng này bóng sang bàn ḿnh gần lưới, đồng thời thường được dùng kết hợp với giao bóng nhanh, v́ vậy luôn phải chú ư đến điểm rơi của bóng đến. Khi phát hiện bóng đến là bóng ngắn cần phải nhanh chóng di chuyển lên phía trước đến được vị trí đánh bóng thích hợp, sau đó căn cứ vào phương hướng và mức độ xoáy của bóng đến và sở trường kỹ thuật của bản thân để sử dụng g̣, đẩy, công, líp bóng cho phù hợp.
    V́ phần lớn bóng loại này đều ở trong bàn nên khi đánh trar th́ vợt thường bị trở ngại của mặt bàn, làm cho biên độ động tác không thể lớn nên cần phải vận dụng đầy đủ sức mạnh của cẳng tay và cổ tay đồng thời cần phải dựa vào tính năng xoáy của bóng đến để điều chỉnh góc độ mặt vợt và phương hướng dùng sức cho phù hợp.
    Sau khi đánh bóng cần nhanh chóng trở về vị trí đứng b́nh thường chuẩn bị đón đánh bóng lần sau.

    * Đỡ giao bóng xoáy lên (xoáy xuống) bên trái thuận tay.

    Do loại giao bóng này thường có thủ pháp tay giống nhau nhưng độ xoáy lại có sự khác biêth giữa xoáy nghiêng lên và xoáy nghiêng xuống. Do vậy trước khi đánh trả cần phải đặc biệt chú ư đến phương hướng xoáy của bóng đến.
    Đỡ giao bóng xoáy nghiêng lên thường sử dụng đẩy bóng, công bóng để đánh trả. Khi đỡ bóng mặt vợt cần hơi nghiêng trước, đồng thời hơi nghiêng lệch sang trái một cách thỏa đáng, cần tăng thêm lực hướng xuống phía dưới và phía trước để pḥng ngừa khi vợt tiếp xúc với bóng sẽ bật ngược sang phía bên phải. Nếu dùng g̣ bóng hoặc cắt bóng để đỡ bóng th́ mặt vợt không nên ngửa ra sau quá nhiều, đồng thời hơi nghiêng lệch sang trái thỏa đáng, ngoài ra c̣n phải tăng lớn lực ma sát vào bóng theo hướng xuống phía dưới. Khi dùng líp bóng để đánh trả cần tăng lớn góc độ nghiêng trước của mặt vợt, đồng thời giảm tối đa sức mạnh nâng kéo lên trên, tăng thêm lực kéo ra trước.

    Đỡ bóng xoáy nghiêng xuống dưới bên trái nên dùng g̣, cắt để đánh trả. Khi đỡ bóng cần hơi ngửa ra sau, đồng thời hơi nghiêng lệch sang trái, tăng thêm lực hướng ra trước, ngăn ngừa bóng đến bật trở lại ra phía dưới bên trái. Nếu dùng đẩy bóng, công bóng để đỡ th́ mặt vợt cần hơi ngửa ra sau, đồng thời hơi nghiêng lệch về bên trái, tăng tối đa sức mạnh ma sát bóng lên trên. Khi dùng líp bóng để đỡ trả th́ mặt vợt không nên quá nghiêng về trước, đồng thời tăng thêm sức mạnh nâng kéo lên trên.

    * Đỡ giao bóng xoáy lên (xoáy xuống) bên phải trái tay.

    Phương pháp đỡ giao bóng xoáy lên (xoáy xuống) bên phải trái tay về cơ bản giống với đỡ giao bóng xoáy lên (xoáy xuống) bên trái thuận tay, chỉ khác là khi đánh vào bóng vợt cần phải nghiêng lệch sang bên phải thỏa đáng để triệt tiêu sức mạnh bắn sang bên trái của bóng đến.

    Trên đây là các phương pháp đỡ các loại giao bóng nói chung. AE tập khi đă thành thạo được các phương pháp nói trên sẽ làm cho kỹ thuật cơ bản của ḿnh được nâng cao. Dựa vào sở trường kỹ thuật của ḿnh và đ̣i hởi kỹ - chiến thuật trong thi đấu có thể vận dụng các phương pháp khác nhau để chủ động đánh trả các loại giao bóng của đối phương.

    3. Đẩy, chặn bóng.

    Đẩy chặn bóng là tên gọi chung của đẩy bóng và chặn bóng. Đây là một trong những kỹ thuật chủ yếu của loại h́nh đẩy trái công phải và cũng là kỹ thuật không thể thiếu của cách đánh các loại h́nh khác.
    Vị trí khi đẩy, chặn bóng là đứng gần bàn, động tác nhỏ, tốc độ nhanh, điểm rơi biến hóa liên tục, cũng có một số biến đổi xoáy. Khi phối hợp sử dụng các loại kỹ thuật đẩy chặn có thể lợi dụng biến đổi tốc độ, điểm rơi, độ xoáy giành chủ động tạo ra các cơ hội tấn công. Khi ở tư thế bị động hợc giằng co, có thể tạo ra tác dụng pḥng thủ tích cực, đồng thời từng bước chuyển từ bị động và giằng co thành thế chủ động.

    Đẩy, chặn bóng có thể chia thanh: chặn ngang đẩy nhanh tăng lực, chặn giảm lực đẩy xoáy xuống, đẩy xoáy nghiêng…

    a. Chặn bóng (chặn ngang)

    - Đặc điểm:

    Chặn bóng là dùng sức nhỏ, tốc độ chậm, điểm rơi vừa phải, không xoáy hoặc xoáy nhẹ. Động tác chặn bóng đơn giản, dễ nắm vững được kỹ thuật, là kỹ thuật nhập môn của vận động viên mới tập bóng bàn. Thông qua tập luyện có thể làm quen với tính năng bóng, nắm bắt động tác, đặt nền móng kỹ thuật cho việc học các kỹ thuật đẩy chặn khác.

    Chặn bóng được chia làm hai loại: Chặn bóng trái tay và chặn bóng thuận tay.

    * Thực hiện kỹ thuật động tác chặn bóng trái tay:

    Đứng ở khoảng giữa hoặc lệch trái bàn bóng, thân người cách bàn khoảng 40-50cm. Hai chân mở sang 2 bên rộng hơn vai, chân phải hơi ra trước hoặc hai chân đứng ngang bằng, hai đầu gối hơi khụy, hóp bụng và ngực, thân trên hơi quay sang trái, tay phải co tự nhiên cầm vợt ở phía trước thân người hoặc hơi lệch trái, đồng thời cẳng tay xoay trong làm cho mặt vợt gần như vuông góc với mặt đất. Khi bóng đánh sang bật lên khỏi mặt bàn, cẳng tay nhanh chóng đưa vợt ra trước đón bóng, ở thời điểm bóng đi lên, dùng mặt vợt vuông góc với mặt bàn đẩy vào phần giữa của bóng. Trong giây lát vợt tiếp xúc vào bóng chỉ dùng sức nhẹ nhàng của cẳng tay và cổ tay. Chủ yếu dựa vào sức bật trở lại của bóng (phản lực) để đánh trả. Sau khi chặn bóng, bàn tay và cánh tay vung ra trước theo đà đồng thời nhanh chóng trở về tư thế chuẩn bị trước khi đánh bóng.
    Trong quá tŕnh thực hiện động tác, trọng tâm cơ thể dồn lên hai chân.

    * Thực hiện kỹ thuật động tác chặn bóng trái tay:

    Đứng ở khoảng giữa hoặc lệch trái bàn bóng, thân người cách bàn khoảng 40-50cm. Hai chân mở sang 2 bên rộng hơn vai, chân trái hơi ra trước hoặc hai chân đứng ngang bằng, hai đầu gối hơi khụy, hóp bụng và ngực, thân trên hơi quay sang phải, tay phải co tự nhiên cầm vợt ở phía bên phải thân người, đồng thời cẳng tay xoay trong làm cho mặt vợt gần như vuông góc với mặt đất.
    Khi bóng đến bật lên khỏi mặt bàn, cẳng tay nhanh chóng đưa vợt ra trước bóng. Ở thời điểm bóng bật lên, dùng mặt vợt vuông góc với mặt bàn đẩy vào phần giữa của bóng, chỉ dụng sức nhẹ nhang của cẳng tay và cổ tay, chủ yếu dựa vào sức bật trở lại của bóng để chặn bóng trả lại đối phương. Sau khi chặn bóng, tay vung vợt ra trước theo đà đồng thời nhanh chóng trở về tư thế chuẩn bị trước khi đánh bóng.
    Trong quá tŕnh thực hiện kỹ thuật động tác đánh bóng, trọng tâm cơ thể dồn lên hai chân.

    b. Đẩy nhanh trái tay.

    Đặc điểm:

    Động tác nhỏ, tốc độ nhanh, điểm rơi biến hóa có kèm theo xoáy lên nhẹ hoặc không xoáy. Đây là kỹ thuật vừa có thể pḥng thủ tích cực lại vừa có thể hỗ trợ tấn công và là kỹ thuật được sử dụng nhiều nhất.

    * Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Đứng ở khoảng giữa hoặc lệch trái bàn bóng, thân người cách bàn khoảng 40-50cm. Hai chân đứng song song, chân phải hơi ra trước, hai gối hơi co, hóp bụng và ngực, thân trên hơi xoay ra trước hoặc sang trái. Cánh tay phải và khủy tay áp sát thân bên phải, co tự nhiên, đưa vợt đến phía trước thân hơi lệch trái, đồng thời cẳng tay xoay ngoài làm cho mặt vợt hơi nghiêng ra trước. Khi bóng đối phương đánh đến ở vào thời điểm đang bật lên th́ dùng mặt vợt hơi nghiêng trước đẩy vào phần giữa của bóng. Trong giây lát vợt tiếp xúc vào bóng, cẳng tay và cổ tay hơi dùng sức ra trước hoặc ra trước kèm theo hướng lên trên, mượn lực để đánh trả bóng. Sau khi đánh vào bóng tay và cẳng tay vung ra trước theo đà và nhanh chóng trở về tư thế ban đầu.
    Trong quá tŕnh thực hiện kỹ thuật động tác đánh bóng, trọng tâm cơ thể dồn lên hai chân.

    c. Đẩy tăng lực:

    Đặc điểm:

    Tốc độ nhanh, sức mạnh lớn, điểm rơi biến hóa, có kèm theo xoáy lên nhẹ hoặc không xoáy.
    Có thể hạn chế sức tấn công của đối phương, buộc đối phương lùi xa bàn, tạo cơ hội tấn công.
    Kỹ thuật này thường được sử dụng kết hợp với chặn bóng giảm lực để có thể khống chế và điều động được đối phương, giành thế chủ động. Đây là kỹ thuật đẩy chặn có uy lực lớn nhất.

    * Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Đứng ở khoảng giữa hoặc lệch trái bàn bóng, thân người cách bàn khoảng 50cm. Hai chân đứng song song, chân phải hơi ra trước, hai gối hơi co, hóp bụng và ngực, thân trên hơi xoay ra trước hoặc sang trái. Cánh tay phải và khủy tay áp sát thân bên phải, co tự nhiên, đưa vợt đến phía trước thân hoặc hơi lệch trái, Vợt cao bằng mặt lưới hoặc hơi cao hơn, mặt vợt hơi nghiêng trước. Khi bóng đối phương đánh đến ở vào thời điểm đang vượt qua lưới th́ cánh tay, cẳng tay và cổ tay vung vợt ra trước đón bóng. Đồng thời lưng lườn, khớp hông xoay sang trái. Vào cuối thời điểm bóng đi lên hoặc bóng cao nhất của bóng đến, dùng mặt vợt hơi nghiêng trước đẩy vào phần giữa của bóng. Trong giây lát vợt tiếp xúc vào bóng, cánh tay, cẳng tay và cổ tay dùng sức phát lực ra trước và hướng xuống dưới đẩy ép bóng phối hợp với dùng sức nhịp nhàng của toàn thân. Sau khi đánh vào bóng, cánh tay và bàn tay vung ra trước xuống dước theo đà và nhanh chóng trở về tư thế ban đầu.
    Trong quá tŕnh thực hiện kỹ thuật động tác trọng tâm cơ thể chuyển dịch từ chân trái sang chân phải.

    d. Chặn bóng giảm lực.

    Đặc điểm:

    Động tác nhỏ, lực nhẹ có thể giảm yếu lực bật trở lại của bóng đến nên điểm rơi gần, đường ṿng cung thấp, không xoáy, lực tiến ra phía trước yếu.
    Phần lớn được sử dụng trong t́nh huống bóng đánh sang của đối phương có sức mạnh lớn hoặc độ xoáy lên cao (đặc biệt vị trí của đối phương tương đối xa bàn) sẽ có thể điều chuyển được đối phương lên trước để đánh bóng. Nếu như sau khi chặn bóng giảm lực lại kết hợp với công bóng hoặc đẩy tăng lực th́ hiệu quả càng cao hơn.

    * Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Đứng ở khoảng giữa hoặc lệch trái bàn bóng, thân người cách bàn khoảng 50cm. Hai chân đứng song song, chân phải hơi ra trước, hai gối hơi co, hóp bụng và ngực, thân trên hơi xoay ra trước hoặc sang trái. Cánh tay phải và khủy tay áp sát thân bên phải, co tự nhiên, đưa vợt đến phía trước thân hoặc hơi lệch trái, cẳng tay xoay ngoài làm cho mặt vợt hơi nghiêng trước. Sau khi bóng đối phương đánh đến bật lên khỏi mặt bàn, cẳng tay và cổ tay vung vợt ra trước đón bóng. Khi bóng ở vào thời điểm đi lên th́ dùng mặt vợt nghiêng trước chặn bóng giảm lực vào phần giữa bóng. Trong giây lát đánh vào bóng, cảng tay và cổ tay nhẹ nhàng lùi sau để giảm nhẹ lực bật trở lại của bóng đến làm cho bóng bay nhẹ nhàng trở lại bàn đối phương.
    Sau khi đánh bóng nhanh chóng trở về tư thế chuẩn bị ban đầu. Trong quá tŕnh thực hiện kỹ thuật động tác, trọng tâm cơ thể dồn đều lên hai chân.

    e. Đẩy bóng xoáy xuống.

    Đặc điểm:

    Lực mạnh, đường ṿng cung thấp, điểm rơi xa, có xoáy xuông gấp (tốc độ bay xoáy xuống tương đối nhanh), bóng đi ch́m, đối phương đánh trả không dễ mượng lực nên dễ chuác lưới, do đó có thể hạn chế tấn công của đối phương, tạo cơ hội tấn công. Đây là loại kỹ thuật đẩy bóng có sức uy hiếp lớn.

    * Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Đứng ở khoảng giữa hoặc lệch trái bàn bóng, thân người cách bàn khoảng 40cm. Hai chân đứng sang ngang hoặc chân trái hơi ra trước, hai gối hơi co, hóp bụng và ngực, thân trên hơi xoay ra trước hoặc sang trái. Cánh tay và khủy tay phải áp sát thân phải, cẳng tay hơi xoay trong, nâng lên và đưa vợt ra trước thân hoặc lệch trái, cao hơn hoặc bằng mặt lưới, mặt vợt hơi ngửa ra sau.
    Sau khi bóng đối phương đánh sang và bật khỏi mặt bàn th́ cẳng tay và cổ tay vung vợt ra trước, xuống dưới đón bóng. Ở thời điểm khi bóng bật lên gần đến điểm cao nhất th́ dùng vợt đẩy vào phần giữa bóng. Trong giây lát đánh vào bóng, cẳng tay, cánh tay và cổ tay dùng sức làm cho vợt ma sát vào bóng theo hướng ra trước xuống dưới. Sau khi đánh bóng, tay vung vợt theo đà ra trước và xuống dưới, đồng thời tư thế nhanh chóng về vị trí ban đầu.
    Trong quá tŕnh thực hiện động tác, trọng tâm cơ thể rơi vào cả hai chân.

    f. Đẩy ép.

    Đặc điểm:

    Tốc độ bóng nhanh, đường ṿng cung thấp, góc độ khi đẩy có đường chéo lớn, kèm theo xoáy nghiêng xuống bên trái. Tạo độ khó cho đối phương khi đánh trả và đánh trả dễ bay ra ngoài phía bên trái.
    Do vị trí của vợt đánh vào bóng ở khu vực hơi xoáy của bóng đánh sang, cho nên đây là kỹ thuật tương đối có hiệu quả để đối phó với líp bóng.

    * Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Đứng ở khoảng giữa hoặc lệch trái bàn bóng, thân người cách bàn khoảng 40cm. Hai chân đứng sang ngang hoặc chân trái hơi ra trước, hai gối hơi khụy, hóp bụng và ngực. Thân người xoay ra trước, cánh tay và khủy tay phải áp sát bên phải của thân người, cánh tay co tự nhiên, cẳng tay nâng lên và xoay ngoài, đưa vợt đến trước thân làm cho mặt vợt hơi nghiêng trước. Sau khi bóng đối phương đánh sang bật lên khỏi mặt bàn, cẳng tay và cổ tay vung vợt xuống phía dưới ra trước bên trái đón bóng. Ở thời điểm bóng bắt đầu bật lên dùng mặt vợt hơi nghiêng trước đẩy vào phần giữa bóng, trong giây lát vợt tiếp xúc vào bóng cẳng tay và cổ tay phát lực ra trước và xuống dưới bên trái. Sau khi đánh bóng, lực vung theo đà ra trước và xuống dưới bên trái, đồng thời nhanh chóng trở về tư thế chuẩn bị ban đầu....


    Trong quá tŕnh thực hiện động tác trọng tâm cơ thể rơi vào cả hai chân.

    4. Công bóng (bóng tấn công)

    Công bóng là một trong những kỹ thuật chủ yếu của loại h́nh đánh đẩy trái công phải và tấn công hai bên. Đây cũng là một kỹ thuật không thể thiếu của các loại h́nh cách đánh khác.
    Công bóng có sức mạnh lớn, tốc độ nhanh có sự biến hóa điểm rơi phong phú, là biện pháp giành điểm chủ yếu của vận động viên bóng ḅn các loại h́nh kỹ thuật.

    Kỹ thuật công bóng có rất nhiều chủng loại.
    Dựa vào vị trí đứng có thể phân thành: công bóng thuận tay, né người công bóng và công bóng trái tay.

    Dựa vào độ gần xa của vị trí đứng có thể phân thành: công bóng gần bàn, công bóng độ xa trung b́nh và công bóng xa bàn.

    Dựa vào độ khác nhau về tính chất, điểm rơi của bóng đến có thể phân thành: giật công và líp công, công bóng trong bàn và đập bóng cao.

    Dựa vào sức mạnh đánh bóng có thể phân thành: công bóng phát lực và công bóng mượn lực…vv.


    a. Công bóng thuận tay.

    Công bóng thuận tay có tốc độ nhanh, sức mạnh lớn, đường bóng rộng, phạm vi quán xuyến lớn. Là kỹ thuật chủ yếu để đè bẹp đối thủ giành thắng lưọi. Vận động viên bóng bàn cần nắm vững các loại h́nh kỹ thuật tấn công khác nhau mới có thể thi đấu tốt môn bóng bàn.

    * Tấn công nhanh thuận tay.

    - Đặc điểm:

    Vị trí đứng gàn, động tác nhỏ, tốc độ nhanh, đường bóng linh hoạt có kèm theo xoáy lên. Có thể mượn lực bật trở lại của bóng đến để nâng cao tốc độ bóng, tạo ra cơ hội đập vụt.

    Trong thi đấu có thể lấy công thay thế pḥng thủ, đối phó với tấn công của đối phương. Đây là kỹ thuật được dùng nhiều nhất trong loại h́nh cách đánh tấn công nhanh gần bàn.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Đứng ở khu vực giữa hoặc hơi lệch sang bên trái bàn, thân người cách bàn khoảng 50cm, chân trái hơi ra trước. Trọng tâm cơ thể đặt trên chân phải, hai gối hơi khụy xuống, hóp bụng và ngực. Thân người hơi xoay sang phải, tay phải co tự nhiên, cẳng tay hơi ra sau và đưa vợt đến bên phải thân người, hơi lệch phải, đồng thời cẳng tay xoay trong làm cho mặt vợt hơi nghiêng trước. Sau khi bóng đối phương đánh sang bật lên khỏi mặt bàn, đầu tiên là lực của cánh tay, cẳng tay và cổ tay chủ động vung vợt ra phía trước sang phải (nếu độ xoáy lên của bóng đến lớn) hoặc ra trước lên trên sang trái (nếu bóng đối phương đánh sang không xoáy hoặc cường độ xoáy yếu) để đón bóng. Đồng thời thân trên xoay sang trái. Ở thời điểm bóng bật lên dùng mặt vợt nghiêng trước để đánh vào phần giữa của bóng. Trong giây lát vợt tiếp xúc vào bóng dùng cẳng tay, cổ tay phát lực đánh vào bóng theo hướng ra trước và sang trái hoặc ra trước lên trên sang trái có sự hỗ trợ lực của thân trên.

    Sau khi đánh vào bóng cẳng tay và bàn tay vung vợt theo đà ra trước, lên trên sang trái và nhanh chóng trở về tư thế chuẩn bị ban đầu.

    Trong quá tŕnh thực hiện kỹ thuật động tác, trọng tâm cơ thể chuyển từ chân phải sang chân trái.

    * Vụt nhanh thuận tay (đột kích)

    - Đặc điểm:

    Vị trí đứng gần bàn, tốc độ bóng nhanh, đường bóng linh hoạt có kèm theo xoáy lên. Điểm đánh bóng ở trong bàn có tính đột kích. Đây là kỹ thuật mang tính tấn công dùng để đối phó với bóng trong bàn (bóng ngắn). Đó cũng là một kỹ thuật mà vận động viên cần phải nắm vững khi thực hiện đánh tấn công gần bàn.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Vị trí đứng áp sát bàn, khi đánh trả theo góc lớn bên phải gần lưới _ chân phải bước ra trước bên phải một bước; khi đánh trả vào giữa hoặc lệch phải gần lưới _ chân trái bước ra trước bên trái một bước, thân người cúi về phía bóng đến, tay phải co tự nhiên, cẳng tay duỗi trước, đưa vợt vào trong bàn.
    Nếu bóng đến xoáy lên hoặc không xoáy th́ cẳng tay xoay trong làm cho mặt vợt nghiêng trước hoặc vuông góc với mặt bàn. Trong thời điểm bóng bật lên ở điểm cao nhất th́ đánh vào phần giữa của bóng. Trong giây lát đánh vào bóng, cẳng tay và cổ tay dùng sức đánh ra trước và lên trên là chủ yếu, đồng thời ngón trỏ hơi thả lỏng, ngón cái ấn vợt, cẳng tay hơi xoay trong.
    Nếu bóng đến xoáy xuống th́ cẳng tay xoay ngoài, làm cho mặt vợt ngửa sau. Đợi khi bóng bật từ bàn lên điểm cao nhất th́ đánh vào phần giữa dưới của bóng. Trong giây lát đánh vào bóng dùng cẳng tay và cổ tay dùng sức đánh ra trước và lên trên là chủ yếu, đồng thời cẳng cẳng tay xoay nhiều vào trong.

    Sau khi đánh bóng, tay cầm vợt vung theo đà ra trước và lên trên, động tác cần nhỏ để có lợi cho việc nhanh chóng lùi ra sau.

    * Líp nhanh thuận tay.

    - Đặc điểm:

    Vị trí đứng gần bàn, động tác nhỏ, tốc độ nhanh, đường ṿng cung thấp, đường bóng linh hoạt có kèm theo xoáy lên. Có thể mượn lực bật trở lại của bóng đến để nâng cao tốc độ của bóng đánh trả, tạo ra cơ hội đập vụt.
    Đây là kỹ thuật chuyên dùng để đối phó với giật bóng.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Vị trí đứng ở khu vực giữa hoặc lệch trái bàn, thân người cách bàn khoảng 40cm, chân trái hơi đứng ra trước, trọng tâm cơ thể rơi vào chân phải, hai gối hơi co, hóp bụng và ngực, thân người hơi xoay sang phải. Tay phải co tự nhiên, cẳng tay nâng lên trên đưa vợt đến vị trí hơi cao ở bên phải thân người. Đồng thời cẳng tay xoay trong làm cho mặt vợt nghiêng trước. Sau khi bóng đối phương đánh sang bật khỏi mặt bàn, dùng lực của cổ tay và cẳng tay là chính vung vợt ra trước sang trái đón bóng phối hợp với xoay thân trên sang trái.

    Trong thời điểm bóng đi lên, dùng mặt vợt nghiêng trước đánh vào phần giữa lệch trên của bóng, trong giây lát vợt đánh vào bóng, mượn sức xoay của thân làm cho cẳng tay, bàn tay nghiêng trước kéo giật bóng.
    Sau khi đánh vào bóng, tay vung vợt theo đà ra trước sang trái và nhanh chóng trở về tư thế chuẩn bị.

    Trong quá tŕnh thực hiện kỹ thuật động tác, trọng tâm cơ thể di chuyển từ chân phải sang chân trái.

    * Phản công bóng cự ly trung b́nh và xa bàn thuận tay.

    - Đặc điểm:

    Vị trí đứng hơi xa với bàn, động tác thực hiện rộng, sức mạnh lớn, đường bóng dài có kèm theo xoáy lên, có thể lưọi dụng sức mạnh và điểm rơi biến hóa để giành điểm. Khi bị động có thể lấy tấn công thay pḥng thủ, tiến hành phản công để tạo cơ hội đập vụt.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Đứng cách bàn khoảng trên dưới 1m, chân trái hơi đứng ra trước, trọng tâm cơ thể dồn lên chân phải, hai gối hơi co, hóp bụng và ngực, thân người hơi xoay sang phải. Tay phải co tự nhiên, đưa vợt xuống dưới ra sau bên phải thân người, đồng thời cẳng tay xoay trong làm cho mặt vợt gần như vuông góc với mặt đất. Sau khi bóng đối phương đánh đến chạm bàn bật lên ở thời điểm cao, đầu liên là cánh tay kéo theo cẳng tay vung vợt lên trên, ra trước sang trái đón bóng cùng với thân trên xoay sang trái. Khi bóng ở thời điểm đi xuống, dùng mặt vợt vuông góc với mặt đất đánh vào phần giữa của bóng, đồng thời ma sát vợt vào bóng theo hướng ra trước và lên trên. Trong giây lát vợt đánh vào bóng, dùng cánh tay, cẳng tay phát lực là chính có sự phối hợp của sự xoay thân.

    Sau khi đánh bóng, tay vung vợt theo đà ra trước lên trên, sang trái và nhanh chóng trở về tư thế chuẩn bị ban đầu. Trong quá tŕnh thực hiện kỹ thuật động tác, trọng tâm cơ thể chuyển từ chân phải sang chân trái.

    * Vụt bóng thuận tay.

    - Đặc điểm:

    Đứng ở vị trí gần bàn, động tác thực hiện rộng, sức mạnh lớn, tốc độ nhanh, bóng đi hơi xoáy lên có độ công kích mạnh. Đây là kỹ thuật tấn công có tính uy hiếp lớn khi đối phó với bóng cao, cao vừa và là biện pháp quan trọng giành điểm của các loại h́nh kỹ thuật tấn công (đặc biệt là cách đánh loại h́nh tấn công nhanh).

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Đứng ở khu vực giữa hoặc hơi lệch trái bàn, phần lớn đứng ở vị trí gần bàn, chân trái hơi đứng ra trước, cự ly giữa hai chân rộng hơn so với các loại h́nh công bóng khác, trọng tâm cơ thể rơi vào chân phải. Hai gối hơi co, hóp bụng và ngực, thân người hơi xoay sang phải. Tay phải co tự nhiên, đưa vợt xuống dưới ra sau bên phải thân người, đồng thời cẳng tay xoay trong làm cho mặt vợt hơi nghiêng trước. Sau khi bóng đối phương đánh sang bật lên khỏi mặt bàn, thân người và cánh tay xoay sang trái. Cùng lúc đó cánh tay phát lực kéo theo cẳng tay và cổ tay vung vợt ra trước sang trái đón bóng. Khi bóng bật lên ở thời điểm cao nhất, dùng mặt vợt nghiêng trước đánh vào phần giữa lệch trên của bóng. Trong giây lát vợt đánh vào bóng lấy cánh tay và cẳng tay phát lực là chính, đánh vào bóng theo hướng ra trước và sang trái (khi bóng đánh sang có cường độ xoáy lên lớn th́ phát lực đánh bóng theo hướng ra trước xuống dưới và sang trái).

    Sau khi đánh bóng, tay cầm vợt vung theo đà ra trước sang trái, đồng thời nhanh chóng trở về vị trí chuẩn bị ban đầu.

    Trong quá tŕnh thực hiện kỹ thuật động tác, trọng tâm cơ thể chuyển từ chân phải sang chân trái

    Nếu bóng đến xoáy xuống th́ mặt vợt không nên quá nghiêng ra trước, đánh vào phần giữa bóng, đồng thời tăng sức mạnh hướng lên trên một cách thỏa đáng.

    * Líp công thuận tay

    - Đặc điểm:

    Vị trí đứng hơi xa bàn, động tác nhỏ, tốc độ nhanh, đường bóng linh hoạt, có kèm theo xoáy lên. Chủ động phát lực đánh bóng, có thể tạo ra cơ hội đập vụt. Đây là kỹ thuật mang tính tấn công có hiệu quả nhất để đối phó với bóng xoáy xuống (đặc biệt là đối phó với cắt bóng). Đây cũng là kỹ thuật mà vận động viên loại h́nh tấn công gần bàn cần phải nắm vững.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Đứng ở khu vực giữa hoặc hơi lệch trái bàn, thân người cách bàn 50-60cm, chân trái hơi đứng ra trước, trọng tâm cơ thể rơi vào chân phải. Hai gối hơi co, hóp bụng và ngực, thân người hơi xoay sang phải. Tay phải co tự nhiên, cẳng tay đưa ra sau và hơi ch́m đưa vợt xuống phía dưới ra sau bên phải cơ thể, đồng thời cẳng tay xoay ngoài làm cho mặt vợt hơi ngửa ra sau. Sau khi bóng đối phương đánh sang bật lên khỏi mặt bàn đến vị trí ca, với sự kéo theo của cánh tay, lấy cẳng tay làm chính vung vợt lên trên ra trước sang trái đón bóng, cùng lúc với xoay thân sang trái. Ở thời điểm bóng từ trên cao rơi xuống dùng mặt vợt ngửa sau đón đánh vào phần giữa dưới của bóng (nếu bóng đến có cường độ xoáy xuống nhỏ, có thể đánh vào phần giữa bóng). Trong giây lát vợt đánh vào bóng, lấy cẳng tay phát lực là chính theo hướng ra trước lên trên và sang trái ma sát đánh vào bóng làm cho bóng xoáy lên. Sau khi đánh bóng, tay cầm vợt theo đà lên trên ra trước và sang trái, sau đó nhanh chóng trỏ về tư thế chuẩn bị ban đầu. Trong quá tŕnh thực hiện kỹ thuật động tác, trọng tâm cơ thể chuyển từ chân phải sang chân trái...



    * Đập bóng cao thuận tay.

    - Đặc điểm:

    Động tác thực hiện và sức mạnh lớn, tốc độ nhanh, đường bóng rộng, bóng không xoáy hoặc hơi xoáy. Đây là kỹ thuật mang tính tấn công có sức uy hiếp lớn để đối phó với bóng cao. Các vận động viên bóng bàn cần nắm vững kỹ thuật cơ bản này.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Vị trí đứng được xác định tùy theo vị trí bóng của đối phương đánh sang. Nói chung cách bàn tương đối xa, chân trái đứng ra trước, trọng tâm cơ thể rơi vào chân phải. Tay phải và thân trên cùng xoay ra phải, cố hết mức đưa vợt ra sau bên phải thân người, đồng thời cẳng tay xoay trong làm cho mặt vợt nghiêng trước.
    Ở thời điểm bóng đi lên, chân phải dùng lực đạp đất, thân trên xoay sang trái. Toàn bộ cánh tay vung lên từ phía sau bên phải thân đến vị trí tương đối cao ở phía trước, trên bên trái thân người. Sau đó tiếp tục vung vợt quay xuống phía dưới trước bên trái đón bóng.
    Ở trước thời điểm bóng đến đi xuống, dùng mặt vợt nghiêng trước đánh mạnh vào phần giữa trên của bóng. Trong giây lát vợt đánh vào bóng, lưng, lườn, háng và thân trên tích cực phát lực xoay sang bên trái, cánh tay và cổ tay với sự kéo theo của lưng, lườn, háng và thân trên dùng sức phát lực ra trước xuống dưới và sang trái đánh vào bóng. Sau khi đánh bóng, cánh tay vung theo đà về hướng ra trước, xuống dưới bên trái, đồng thời nhanh chóng trở về tư thế chuẩn bị ban đầu. Trong quá tŕnh thực hiện kỹ thuật động tác, trọng tâm cơ thể chuyển từ chân phải sang chân trái.

    * Vụt trượt thuận tay.

    - Đặc điểm:

    Đứng gần bàn, động tác nhỏ, tốc độ nhanh có kèm theo xoáy nghiêng trái hoặc xoáy nghiêng lên bên trái. Có thể bất ngờ đánh một đường bóng khác thường làm cho đối phương trở tay không kịp, từ đó có thể giành điểm hoặc đối phương đánh trả bóng cao tạo cơ hội đập vụt, tấn công thuận lợi. Đây là một loại kỹ thuật tấn công có sức uy hiếp lớn.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Đứng ở khu vực giữa hoặc hơi lệch trái bàn, thân người cách bàn 50cm, chân trái hơi đứng ra trước, trọng tâm cơ thể rơi vào chân phải. Hai gối hơi co, hóp bụng và ngực, thân người hơi xoay sang phải. Tay phải co tự nhiên, đưa vợt ra phía trước bên phải thân, đồng thời cẳng tay xoay trong làm cho mặt vợt vuông góc với mặt đất hoặc hơi nghiêng ra trước (nếu bóng đến xoáy lên). Sau khi bóng đối phương đánh sang bật lên khỏi mặt bàn, cánh tay kéo theo cẳng tay ra phía trước bên trái đón bóng. Trước khi vợt chạm bóng, lợi dụng động tác cổ tay làm cho mặt vợt nghiêng sang phải. Khi bóng đến ở thời điểm cao nhất, dùng mặt vợt vuông góc với mặt đất hoặc hơi nghiêng trước đánh vào phần giữa bên trái hoặc phần giữa lệch trên bên trái của bóng, đồng thời ma sát vào bóng theo hướng ra trước và sang trái. Trong giây lát vợt đánh vào bóng dùng cẳng tay và cổ tay phát lực là chính theo hướng ra trước bên trái. Sau khi đánh bóng, tay cầm vợt theo đà vung về phía trước bên trái.
    Trong quá tŕnh thực hiện kỹ thuật động tác, trọng tâm cơ thể chuyển từ chân phải sang chân trái....


    Moba.Jugger



  3. #3
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Bài viết
    4.213
    Next Level: 1.787

    Kỹ thuật di chuyển bước.

    1. Tầm quan trọng của phương pháp bước chân.

    Cùng với sự phát triển của kỹ thuật môn bóng bàn, sự biến hóa về đường bóng, biến hóa về điểm rơi khi đánh bóng cũng ngày một phát triển không ngừng. Điều này đ̣i hỏi vận động viên bóng bàn cần phải di chuyển bước chân nhanh hơn để đảm bảo tính chính xác của động tác chi trên và phát huy sở trường kỹ chiến thuật cá nhân.

    Ngược lại, nếu như di chuyển bước không tốt th́ không thể đảm bảo cho chi trên thực hiện động tác đánh bóng chính xác.

    Tính chuẩn xác của bước chân và chất lượng đánh bóng có ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quảcủa việc sử dụng kỹ thuật sở trường của vận động viên.

    V́ vậy để đánh bóng bàn được tốt, nhất định phải nắm vững kỹ thuật di chuyển bước.

    2. Phương pháp di chuyển bước thường dùng.

    a. Bước đơn.

    - Đặc điểm:

    Động tác nhanh và đơn giản, phạm vi di chuyển nhỏ, quá tŕnh di chuyển bước trọng tâm cơ thể luôn vững vàng thích hợp với việc sử dụng trong khi bóng đến có cự ly gần với cơ thể.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Dùng một chân làm chân trụ, chân c̣n lại dựa vào đường bóng và điểm rơi của bóng đến để di chuyển bước ra trước, ra sau, sang trái hoặc sang phải.

    b. Bước vượt.

    - Đặc điểm:

    Tốc độ di chuyển nhanh, phạm vi di chuyển lớn hơn bước đơn. Có thể sử dụng khi bóng đến cách thân hơi xa. V́ bước di chuyển thứ nhất có biên độ lớn làm cho trọng tâm cơ thể hạ thấp nên không dễ sử dụng liên tục.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Dùng chân khác hướng với hướng bóng đến đạp đất, chân cùng hướng bước một bước dài về hướng bóng đến, trọng tâm cơ thể di chuyển theo chân này, c̣n chân kia nhanh chóng bước theo một bước.

    Nếu điểm rơi của bóng đến cách than tương đối xa hoặ tương đối gần th́ phương hướng di chuyển bước có thể lệch sau hoặc lệch trước.

    c. Bước nhảy.

    - Đặc điểm:

    Phạm vi di chuyển tương đối lớn, trọng tâm cơ thể biến đổi rất nhanh, trước và sau khi di chuyển cự ly giữa hai chân cơ bản như nhau. Có thể sử dụng để liên tục đánh trả bóng đến, sử dụng thích hợp khi bóng đến cách cơ thể tương đối xa.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Trước tiên chân khác hướng với bóng đến bước sang hướng bóng đến, sau đó chân c̣n lại tiếp tục bước theo sang ngang.

    Nếu điểm rơi của bóng đến tương đối xa hoặc tương đối gần th́ phương hướng di chuyển đón đánh các loại bóng đến có thể lệch ra sau hoặc ra trước.

    d. Bước đôi.

    - Đặc điểm:

    Biên độ di chuyển lớn hơn bước đơn và nhỏ hơn bước nhảy. Khi di chuyển không có động tác trên không, có lợi cho việc giữ trọng tâm cơ thể ổn định, thiíchhợp sử dụng cho cách đánh cắt bóng, cách đánh tấn công nhanh và giật vồng. Khi công cắt bóng sẽ di chuyển trong phạm vi nhỏ cũng thường sử dụng bước đôi.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Phương pháp di chuyển cơ bản giống với bước nhảy, chỉ khác nhau ở chỗ không nhảy lên trên không. Khi di chuyển, trước tiên chân khác với hướng bóng đến bước sang ngang gần chân cùng hướng bóng đến, sau đó chân cùng hướng bóng đến lại tiếp tục bước sang bên hướng bóng đến.

    e. Bước chéo.

    - Đặc điểm:

    Bước chéo là một phương pháp di chuyển bước có biên độ di động lớn nhất, chủ yếu dùng để đối phó với bóng đến có khoảng cách quá xa với cơ thể, cách đánh tấn công nhanh hoặc giật vồng.

    Khi né người tấn công sau đó tạt bóng thuận tay khoảng trống, hoặc khi líp cắt bóng trong lúc di động thường sử dụng bước chéo để đỡ bóng ngắn hoặc đỡ cắt đột kích.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Trước hết dùng chân gần với hướng bóng đến làm thành chân chống đất, bước nhanh chân xa bóng lên trước qua chân chống đất sang phía bóng đến 1 bước lớn, sau đó chân chống đất tiếp tục di chuyển một bước sang ngang theo hướng bóng đến.

    f. Bước né người.

    Khi bóng đến ở bên trái tay nhưng bản thân lại quyết định sử dụng kỹ thuật công bóng thuận tay để đánh trả th́ đ̣i hỏi phải dùng bước né người. Bước né người căn cứ vào sự khác nhau về vị trí của bóng đến và thói quen của cá nhân có thể phân chia thành né người bước đơn, né người bước vượt, né người bước nhảy.

    * Né người bước đơn.

    - Đặc điểm:

    Tốc độ di chuyển nhanh, biên độ nhỏ. Khi bóng đến thẳng vào vị trí thân người hoặc lệch phải th́ sử dụng né người bước đơn.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Chân trái làm trụ, chân phải nhanh chóng di chuyển một bước ra phía sau bên phải.

    * Né người bước vượt.

    - Đặc điểm:

    Tốc độ di chuyển so với né người bước đơn hơi chậm hơn, nhưng biên độ di chuyển lớn hơn so với né người bước đơn. Khi bóng đến ở vị trí về phía bên trái thân th́ sử dụng kỹ thuật này.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Chân trái trước tiên bước 1 bước vượt ra trước sang trái, sau đó chân phải di chuyển 1 bước ra sau bên phải, trọng tâm cơ thể rơi vào chân phải. Trong quá tŕnh di chuyển vị trí cần hóp bụng, xoay người để ra vị trí đánh bóng.

    * Né người bước nhảy.

    - Đặc điểm:

    Tốc độ di chuyển chậm, biên độ di chuyển tương đối lớn, có lợi cho việc phát huy công bóng thuận tay mạnh mẽ.

    - Thực hiện kỹ thuật động tác:

    Chân phải đạp đất làm cho trọng tâm cơ thể nhanh chóng chuyển qua chân trái. Sau đó hai chân hầu như đồng thời rời khỏi mặt đất cùng nhảy sang bên trái 1 bước. Chân phải chạm đất trước, trọng tâm cơ thể rơi vào chân phải, chân trái cũng liền đó chạm đất.....
    3. Di chuyển bước chủ yếu của các cách đánh thường gặp.

    a. Di chuyển bước của cách đánh đẩy trái công phải vợt dọc.

    Vị trí đứng của cách đánh đẩy trái công phải vợt dọc ở gần bàn và lệch trái, chân trái thường ở trước, chân phải hơi ra sau, luôn luôn chuẩn bị phát huy uy lực tấn công bóng thuận tay và né người công bóng. Di chuyển nhanh phạm vi nhỏ sang hai bên phải trái thường được dùng nhiều nhất và cũng phối hợp thỏa đáng với di chuyển phải, trái, trước, sau phạm vi tương đối lớn nên thường lấy di chuyển bước nhảy, bước vượt làm chính kết hợp với bước đơn, bước đôi, bước né người và bước chéo.

    b. Di chuyển bước của cách đánh tấn công hai mặt.

    Vị trí đứng của cách đánh tấn công hai mặt là gần bàn và hơi lệch trái, hai chân thay đổi trước sau hoặc đứng ngang bằng. Thường dùng bước đơn di chuyển sang trái để né người sang trái chừa chỗ tấn công bên phải. Phương pháp bước chân dùng bước đơn và bước vượt bước nhảy phạm vi nhỏ làm chính kết hợp với các bước khác.

    c. Di chuyển bước của cách đánh giật vồng hai mặt.

    Vị trí đứng ở cách đánh giật (líp) vồng hai mặt hơi xa bàn, biên độ động tác đánh bóng tương đối lớn. Khi tấn công hoặc pḥng thủ đ̣i hỏi phải quán xuyến phạm vi tương đối lớn cho nên khi di chuyển thường dùng bước chéo và bước nhảy làm chính phối hợp với bước vượt và các loại bước di chuyển khác.

    d. Di chuyển bước của cách đánh tấn công nhanh kết hợp giật vồng.

    Khi tấn công nhanh kết hợp giật vồng th́ lúc tấn công nhanh thường đứng cách bàn tương đối gần, cho nên thường lấy bước nhảy, bước vượt là chính kết hợp với các bước nhảy khác.

    Khi chuyển sang cách đánh giật vồng th́ dùng bước chéo và bước nhảy là chính kết hợp với các loại bước di chuyển khác.

    e. Di chuyển bước của cách kết hợp cắt công.

    Cách đánh kết hợp cắt công nói chung là vị trí đứng thường xa bàn và đánh vào bóng ở thời kỳ bóng đến đi xuống thấp, đồng thời c̣n thường từ pḥng thủ chuyển sang tấn công hoặc từ tấn công sang pḥng thủ nên đ̣i hỏi phạm vi di chuyển và quán xuyến rất lớn. V́ vậy phương thức di chuyển bước rất nhiều.

    Khi pḥng thủ th́ dùng bước nhảy và bước chéo là chính, phối hợp với các bước di chuyển khác.

    Khi chuyển sang tấn công th́ dùng bước nhảy và bước vượt là chính phối hợp với các bước di chuyển khác.


    Moba.Jugger



  4. #4
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Bài viết
    4.213
    Next Level: 1.787

    Chiến thuật chủ yếu của môn bóng bàn.

    1. Chiến thuật đẩy công.

    - Đặc điểm:

    Chủ yếu sử dụng tốc độ và sức mạnh tấn công thuận tay và đẩy chặn trái tay, đồng thời kết hợp sự biến đổi điểm rơi và biến đổi nhịp độ để áp chế và điều động đối phương nhằm tranh thủ chủ động hoặc giành điểm. Chiến thuật đẩy công là chiến thuật chủ yếu của cách đánh đẩy trái công phải để đối phó lại với cách đánh loại h́nh công kích. Những vận động viên bóng bàn có năng lực đẩy chặn tấn công 2 mặt và kết hợp công cắt, …v.v thường sử dụng loại chiến thuật này.

    - Phương pháp:

    + Đẩy trái công phải.

    + Đẩy chặn né người tấn công.

    + Đẩy chặn, né người tấn công sau đó tạt bóng thuận tay.

    + Đẩy trái kết hợp công trái tay.

    + Đẩy trái công trái tay, sau đó né người tấn công.

    + Đẩy trái, công trái tay né người tấn công, sau đó tạt bóng thuận tay.

    - Chú ư:

    + Đẩy, công bóng đều cần có sự biến đổi đường bóng, biến hóa điểm rơi và biến hóa nhịp độ.

    Đây là phương pháp chủ yếu của chiến thuật đẩy công giành chủ động và tạo ra cơ hội đập vụt bóng giành điểm.

    + Đẩy chặn: Nói chung lấy ép trái tay của đối phương làm chính. Sau đó đột ngột đổi sang ép thuận tay để tạo ra cơ hội tấn công. Nếu như thuận tay của đối phương tương đối kém th́ mới có thể dùng đẩy ép thuận tay của đối phương làm chính.

    + Trong đẩy chặn có thể đột ngột đẩy tăng lực vào trung lộ của đối phương làm cho đối phương khó có thể dùng sức đánh trả. Sau đó có thể dùng đập vụt thuận tay hoặc né người đập vụt.

    + Khi gặp đường bóng có cơ hội tấn công cần quyết đoán đập vụt. Đây là biện pháp chủ yếu để giành điểm của chiến thuật đẩy công.

    + Chiến thuật đẩy công phải kiên tŕ bán gần bàn, lại không thể pḥng thủ “chết” ở gần bàn. Cần phải nắm được sự thay đổi vị trí giữa gần và vừa bàn, nắm vững nhịp độ đối công.

    + Chiến thuật đẩy công đối phó với cách đánh giật líp bóng, nên kiên tŕ xa bàn là chính. Dùng đẩy nhanh và đẩy chăn tăng, giảm lực, khống chế điểm rơi thừa cơ dùng líp bóng phản công gần bàn hoặc đập vụt giật vồng với sức mạnh trung b́nh sau đó chuyển sang tấn công liên tục thuận tay.

    2. Chiến thuật công 2 mặt.

    - Đặc điểm:

    Chủ yếu lợi dụng tốc độ và sức mạnh kỹ thuật tấn công bóng thuận tay và trái tay để áp chế đối phương, tranh thủ giành chủ động và tạo cơ hội đập vụt. Chiến thuật tấn công 2 mặt là chiến thuật chủ yếu của cách đánh tấn công 2 mặt đối phó với loại h́nh cách đánh công kích.

    - Phương pháp:

    + Công bên trái, vụt bên phải (tấn công vào góc trái của đối phương, t́m cơ hội vụt mạnh vào chỗ trống bên thuận tay của đối phương).
    + Tấn công đánh 2 góc, vụt mạnh vào trung lộ.

    - Chú ư:

    + Tấn công bóng thuận tay và trái tay đều phải có sự biến đổi đường bóng và điểm rơi để tạo ra cơ hội đập vụt.

    + Cần lấy việc ép trái tay của đối phương làm chính, sau đó công kích vào bên thuận tay hoặc trung lộ của đối phương nhằm tạo ra cơ hội đập vụt.

    + Khi có cơ hội cần mạnh dạn và quyết đoán đập vụt.

    + Chiến thuật tấn công 2 mặt trong t́nh huống chủ động tấn công cần kiên tŕ gần bàn. Trong t́nh huống bị động có thể lùi ra sau thích hợp, tiến hành phản công ở cự ly gần và và xa.

    + Chiến thuật tấn công 2 mặt đối phó với cách đánh giật líp bóng, cần kiên tŕ gần bàn và dùng vuốt bóng nhanh để chống lại bóng giật vồng của đối phương, thừa cơ sử dụng líp bóng phản công hoặc đập vụt, líp bóng với sức mạnh trung b́nh, sau đó chuyển sang tấn công liên tục.

    3. Chiến thuật líp công.

    - Đặc điểm:

    Liên tục dùng líp bóng nhanh thuận tay tạo cơ hội tấn công. Sau đó sử dụng đột kích và đập vụt để tạo thế chủ động và giành điểm. Chiến thuật líp công là chiến thuật chủ yếu của cách đánh tấn công nhanh đối phó với cách đánh của loại h́nh cắt bóng.

    - Phương pháp:

    + Líp bóng thuận tay sau đó đập vụt.

    + Líp bóng trái tay sau đó đập vụt (nói chung là các vận động viên bóng bàn tấn công 2 mặt khi gặp cắt bóng góc lớn bên trái hay sử dụng).

    - Chú ư:

    + Sức mạnh líp, đập vụt bóng cần có tính bất ngờ để đối phương không kịp trở tay.

    + Cần có sự biến đổi đường bóng và điểm rơi khi líp bóng (như líp 2 góc trái, phải; phải ngăn, trái dài …v.v) để điều động, áp chế đối phương giành thế chủ động và tạo cơ hội tấn công.

    + Khi gặp bóng có cơ hội tấn công cần mạnh dạn đập vụt hoặc đột kích (có thể đập vụt vào trung lộ hoặc bên yếu của đối phương).

    + Sử dụng chiến thuật líp công cần có sự kiên tŕ không nên nóng vội giành phần thắng trong dứt điểm, đối với bóng có cơ hội chưa chắc chắn sẽ không nên đánh bóng qua mạnh...........

    4. Chiến thuật kết hợp líp, vụt, bỏ nhỏ.

    - Đặc điểm:

    Chiến thuật này là do chiến thuật líp công kết hợp với bỏ nhỏ mà tạo thành. Đây là chiến thuật thường dùng của cách đánh loại h́nh tấn công đối phó với cách đánh cắt bóng.

    - Phương pháp:

    + Khi đập vụt ở chiến thuật líp công hoặc bỏ nhỏ bóng sau đột kích (lúc này vị trí đứng của đối phương nói chung cách bàn tương đối xa nên bỏ nhỏ bóng là ưu tiên tốt nhất).

    + Sau khi bỏ nhỏ trong chiến thuật líp công cần tiến hành khi vị trí đứng của đối phương tương đối xa, đồng thời bóng đến tương đối gần lưới. Như vậy điểm rơi của bóng bỏ nhỏ dễ áp sát lưới, có thể tăng thêm độ khó và cự ly di chuyển ra trước cho đối phương.

    + Khi đập vụt sau khi bỏ nhỏ, nếu đối phương áp rất gần bàn có thể đập bóng nhắm thẳng vào thân người của đối phương. Như vậy thường có thể làm cho đối phương khó có thể né người để đánh trả.

    5. Chiến thuật g̣ công.

    - Đặc điểm:

    Chủ yếu dùng g̣ bóng xoáy thấp và biến hóa đường bóng, điểm rơi để khống chế đối phương, thừa cơ công bóng, sau đó sử dụng kỹ thuật đột kích thấp, vụt nhanh hoặc líp nhanh…v.v và chuyển sang tấn công liên tục.

    Trong khi g̣ bóng gặp cơ hội tấn công có thể tiến hành đập vụt, thường thường kèm theo tính đột ngột, bất ngờ có thể giành điểm trực tiếp.
    Chiến thuật g̣ công là chiến thuật bổ trợ không thể thiếu trong các loại h́nh cách đánh của bóng bàn.

    - Phương pháp:

    + G̣ bóng thuận tay, trái tay kết hợp líp nhanh, vụt nhanh, đột kích hoặc đập vụt thuận tay.

    + G̣ bóng thuận tay, trái tay kết hợp líp nhanh, vụt nhanh, đột kích hoặc đập vụt trái tay.

    - Chú ư:

    + Chiến thuật g̣ công vừa phải cố hết mức vung vợt sớm (trong thi đấu từ g̣ chuyển sang công gọi là hơi vung vợt) để giành thế chủ động nhưng lại không được có tâm lư nóng vội. Nếu không vung vợt rất dễ mắc sai lầm.

    + Vẩy ngắn trong g̣ bóng có thể làm cho đối phương không dễ cướp trước (hoặc phát lực) tấn công, có lợi cho việc tạo ra cơ hội tấn công để thừa cơ dùng tấn công thuận tay, trái tay hoặc né người tấn công.

    6. Chiến thuật phản công trong cắt bóng.

    - Đặc điểm:

    Chiến thuật này được kết hợp giữa cắt bóng và công bóng.
    Thường là lấy cắt bóng bịt góc tăng xoáy làm chính, thừacơ phản công hoặc lấy cắt bóng xoáy, thấp vững, biến hóa nhiều buộc đối phương líp công trong lúc di chuyển bước, từ đó t́m ra cơ hội phản công.
    Chiến thuật này có đặc điểm: “Ẩn, biến mạnh, công”, là chiến thuật chủ yếu của cách đánh kết hợp công cắt.

    - Phương pháp:

    + Bịt góc cắt bóng thuận tay, trái tay (tức điểm rơi ẩn gần lưới góc trái của bàn đối phương), kết hợp công thuận tay hoặc né người tấn công khu vực trống bên phải của đối phương.

    + Cắt bóng dài hai góc lớn thuận tay và trái tay kết hợp phản công hoặc né người tấn công trái tay và thuận tay.

    - Chú ư:

    + Cắt bóng thuận tay và trái tay đều cần chú ư sự biến hóa cường độ xoáy của bóng đến. Sau khi cắt bóng tăng xoáy có thể dùng động tác cắt tương tự như cắt bóng tăng xoáy để cắt bóng không xoáy. Đây là phương pháp có hiệu quả làm cho đối phương líp bóng cao, từ đó tiến hành phản công, đập vụt giành lợi thế.

    + Khi cắt bóng cần cố gắng hết mức có thể để ép thấp độ vồng, tránh đối phương đập vụt hoặc đột kích.

    + Khi cắt bóng ẩn góc, cần phối hợp cắt bóng góc kia để làm cho đối phương phải luôn đánh bóng trong lúc di chuyển bước.

    7. Chiến thuật giao bóng cướp tấn công (Cướp líp giật)

    - Đặc điểm:

    Chiến thuật giao bóng cướp tấn công là chiến thuật lấy giao bóng có đường bóng xoáy, điểm rơi và tốc độ khác nhau để tăng độ khó khi đánh trả cho đối phương, tạo cho bản thân có cơ hội tấn công hoặc làm giảm hiệu quả bóng đánh trả của đối phương.

    Sau đó cướp tấn công giành lại thế chủ động hoặc trực tiếp giành lợi điểm. Đây là chiến thuật và biện pháp giành lợi điểm chủ yếu của tất cả các cách đánh, đặc biệt là cách đánh của loại h́nh tấn công.

    - Phương pháp:

    + Giao bóng xoáy xuống và không xoáy, cướp tấn công.

    + Giao bóng luân phiên thuận tay và trái tay, cướp tấn công.

    + Giao bóng xoáy lên xoáy xuống nghiêng thuận tay và trái tay, cướp tấn công.

    - Chú ư:

    + Giao bóng cần có sự biến đổi đường bóng và điểm rơi làm cho đối phương phải chạy chỗ lên trước, sau, phải, trái để đỡ giao bóng.

    + Sau khi giao bóng cần có sự chuẩn bị cướp tấn công để không mất đi cơ hội giành lợi điểm.

    + Bản thân khi giao bóng là loại ǵ? Đối phương có thể dùng kỹ thuật ǵ để đánh trả?... Tất cả cần được định sẵn và dự đoán trước khi giao bóng. Như vậy mới có thể làm tốt việc chuẩn bị cướp tấn công.

    + Cướp tấn công cần cố gắng sử dụng hết sức mạnh đánh bóng nhưng lại không thể quá mạnh (cần dựa vào độ cao và tính chất của bóng đến để sử dụng sức mạnh thỏa đáng, tối ưu), nếu không sẽ làm ảnh hưởng đến chất lượng bóng đánh trả.

    8. Chiến thuật đỡ giao bóng cướp tấn công (Líp giật công)

    - Đặc điểm:

    Chiến thuật này là do một số kỹ thuật đơn lẻ h́nh thành, có tính tấn công mạnh mẽ, có thể biến sự bất lợi của đỡ giao bóng thành thế chủ động, trực tiếp giành điểm.

    Đây là chiến thuật chủ yếu của các cách đánh trong môn bóng bàn, đặc biệt là cách đánh loại h́nh tấn công.

    - Phương pháp:

    Dùng kỹ thuật vụt nhanh, công nhanh hoặc đột kích với sức mạnh vừa phải để tiến hành đỡ giao bóng cướp tấn công.

    - Chú ư:

    + Do đỡ giao bóng cướp tấn công (cướp líp, giật công) thường được tiến hành trong t́nh huống đối phương chủ động giao bóng và bản thân ở vào thế đỡ giao bóng bị động mà phải sử dụng cách đánh tấn công, do vậy độ khó tương đối lớn.

    Đỡ giao bóng cướp tấn công nói chung không thể quá mạnh. Do đó cần xác định phương hướng xoáy của bóng đến, cường độ xoáy và độ cao của bóng đến mà sử dụng phương pháp tấn công thỏa đáng.

    Ví dụ: Khi đối phương giao bóng tăng xoáy xoáy xuống, khi đỡ giao bóng cướp tấn công cần sử dụng thủ pháp nâng kéo bóng để tránh rúc lưới, đồng thời sức mạnh công bóng không thể quá lớn. C̣n nếu khi đối phương giao bóng xoáy lên xoáy nghiêng th́ khi đỡ giao bóng cướp tấn công nên sử dụng thủ pháp đẩy ép để tránh công bóng rúc lưới.
    Chỉ có khi nào bóng đến hơi cao mới có thể cướp tấn công với sức mạnh lớn.

    + Sau khi kết thúc động tác đỡ giao bóng cướp tấn công cần chú ư lập tức làm tốt công tác chuẩn bị đối công hoặc liên tục tấn công để tiếp tục giành thế chủ động.

    + Đỡ giao bóng cướp tấn công líp công, giật công th́ sức mạnh càng nhỏ càng cần chú ư tới đương bóng và điểm rơi của bóng. Nếu trái tay của đối phương mạnh mà thuận tay yếu th́ có thể đánh nhiều về tay thuận của đối phương và ngược lại.



    Moba.Jugger



  5. #5
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jan 2010
    Bài viết
    4.213
    Next Level: 1.787

    ĐẲNG CẤP BÓNG BÀN
    Xem trực tiếp flash này



    Moba.Jugger



  6. #6
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    49
    Next Level: 151

    là như vậy tuy là rolnaldo hơn messi ở chuyền rê bóng nhưng đối với tốc độ chạy th́ hơn hẳn ronaldo. Điều đó đă được chứng minh qua đêm chung kết giữa Barcelona

  7. #7
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Jun 2010
    Bài viết
    49
    Next Level: 151

    là như vậy tuy là rolnaldo hơn messi ở chuyền rê bóng nhưng đối với tốc độ chạy th́ hơn hẳn ronaldo. Điều đó đă được chứng minh qua đêm chung kết giữa Barcelona

  8. #8
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Dec 2009
    Bài viết
    1.899
    Next Level: 101

    b. Phương pháp đỡ giao bóng.

    Phương pháp cơ bản của đỡ giao bóng gồm có: Giật bóng, công bóng, tạt bóng, vuốt bóng, g̣ bóng, cắt bóng, đẩy bóng, chặn bóng, đập nhỏ, bỏ nhỏ.
    Cái này ai cũng làm được th́ cần ǵ những phương pháp kia nữa
    TaoCoi
    __VungTau__



    2 Bàn Tay Trắng Làm Nên Đống Nợ ...
    !














  9. #9
    Thành viên mới

    Ngày tham gia
    Nov 2010
    Bài viết
    2
    Next Level: 28

    bài viết dài quá !!! ḿnh ko đọc hết nổi

  10. #10
    BM professional

    Ngày tham gia
    Feb 2010
    Bài viết
    4.366
    Next Level: 1.634

    bóng bàn .............
    Mới tập chơi, nhưng luật th́ rơ.

    Cơ hội kinh doanh, cơ hội để tiến tới thành công, chỉ cần click chuột.
    MUA BÁN


Trang 1/2 1 2 CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh