share experienceshareexperiencememcachedmemcached
Trang 10/26 ĐầuĐầu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 25 ... CuốiCuối
Hiện kết quả từ 91 tới 100 của 258

Chủ đề: Vũ khí trong CF và h́nh ảnh ngoài đời thực !

  1. #91
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Bài viết
    202
    Next Level: 298

    Trích dẫn Nguyên văn bởi THANH18871 Xem bài viết
    tiếp đi bạn
    đang thèm xem mấy quả sniper rifles đi
    Cứ b́nh tĩnh ,rồi đâu có đó.

  2. #92
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Bài viết
    202
    Next Level: 298

    Remington 870
    Remington 870

    Remington 870 Police

    Remington 870 Express Combo

    Remington 870 MCS-(Modular Combat Shotgun)

    Remington 870 gắn dưới M4

    Loại: bán tự động
    Gauge: 12
    Chiều dài: thay đổi theo phiên bản
    Độ dài ṇng: 355 mm (14 in), 457 mm (18 in)
    Trọng lượng: 3-3,5 kg
    Ổ đạn: lên đến 7 hoặc 8 viên
    Remington 870 "Wingmaster shotgun" đă được giới thiệu bởi Remington vào năm 1950, và kể từ đó trở thành một trong những shotgun phổ biến nhất nước Mỹ. Bắt đầu từ đó cuộc sống như một shotgun đi săn linh hoạt, có sẵn trong các phiên bản khác nhau nhiều. Trong đầu thập niên 1970 Remington 870 đă được thông qua bởi Quân đội Mỹ - năm 1966 Thủy quân Lục chiến Hoa Kỳ đă mua hàng ngàn Remington 870 (cùng với Mossberg 590 và Winchester 1200). Phiên bản quân sự đă mở rộng ổ đạn cho 7 hoặc 8 viên , gắn lưỡi lê , lá chắn nhiệt trên ṇng và không chói và có chống gỉ bảo vệ.
    Remington 870 cũng là rất phổ biến với cảnh sát / an ninh s, có sẵn ổ đạnmở rộng (lên đến 8 viên đạn), báng gấp và tay cầm súng ngắn. Thông thường, cảnh sát có Remington -870 cỡ ṇng 10-14-18,có khả năng bắn đạn cỡ lớn, đạn nhỏ và đạn dược mục đích đặc biệt (lựu đạn khói, đạn cao su vv…)
    M870 có thể được trang bị dưới súng trường hay trang bị ống nhắm, với đèn pin chiến thuật và laser vv...

    Remington 1100

    Loại: bán tự động,tự động
    Gauge: 12 (2 3 / 4 "- 70 mm )
    Chiều dài: ~ 960 mm với 18 inch ṇng
    Độ dài ṇng: 457 hoặc 508 mm (18 inch hoặc 20 inch)
    Trọng lượng: ~ 3 kg
    Ổ đạn: 5 hoặc 7 viên (với phần mở rộng được cài đặt)
    Remington 1100 (bán tự động) shotgun được công bố vào năm 1963. Nó thay thế một số Remington bán tự động sản xuất trước đó, chẳng hạn như các phiên bản Sportsman 11-48 và 58, và kể từ đó phiên bản Remington 1100 và được bán với số lượng lớn trên khắp thế giới (hơn một triệu súng).
    Model 1100 vẫn c̣n được liệt kê trong danh mục sản phẩm Remington và là một súng săn bắn rất phổ biến c̣n dành cho thể thao, tự vệ và cảnh sát. Nó cung cấp tính linh hoạt tuyệt vời và hỏa lực tốt.
    Các bộ hoạt động khí bán tự động tăng tốc độ bắn của và độ giật.Nó là một thiết kế rất đáng tin cậy, và rất linh hoạt, nhờ có nhiều loại phụ kiện có sẵn, thùng thay thế và báng kích cỡ khác nhau. Remington 1100 vẫn c̣n được sử dụng bởi một số pḥng ban cảnh sát tại Mỹ.
    Remington 1100 là phiên bản cải tiến của Remington 870,tăng tốc độ lên đạn bằng thanh trượt làm cho hiệu quả sử dụng nâng cao.
    Remington 11-87
    Remington 11-87 Police

    Loại: bán tự động,tự động
    Gauge: 12 (3 "- 76 mm buồng)
    Chiều dài: ~ 965 mm (với ṇng 18 inch)
    Độ dài ṇng: 14 "(355 mm), 18" (457 mm) hoặc 20 "(508 mm)
    Trọng lượng: ~ 3,6 kg với 18 inch (ṇng dài)
    Ổ đạn: 5 viên (tiêu chuẩn) hoặc 7 viên (với ổ đạn dự pḥng) .
    Remington Model 11-87 shotgun đă được công bố trong năm 1987 như là một phiên bản cải tiến và tăng cường của Remington M 1100 shotgun. Các phiên bản mới cókỹ thuật tương tự như người tiền nhiệm của nó nhưng mạnh mẽ hơn bởi v́ nó được thiết kế để lbắn đạn 3 "(76 mm) và đạn magnum song song.
    Cả hai model 1100 và 11-87 vẫn được sản xuất tại Mỹ và tại thời điểm cuối năm 2002 Remington cập nhật vào danh sách khoảng 20 biến thể săn bắn của Model 11-87 cộng với ít nhất 4 phiên bản dành cho cảnh sát / các phiên bản chiến thuật. Những phiên bản dành cho cảnh sát/chiến thuật khác phiên bản săn bắn và súng thể thao do có màu đen, báng polymer, ṇng tương đối ngắn và có thêm thước nhắm. Hầu hết phiên bản cảnh sát/chiến thuật được trang bị ổ đạn mở rộng theo tiêu chuẩn. Tất cả đều được trang bị miếng cao su trên buttstocks để cảm thấy giảm độ giật.
    Nó hơi nặng hơn so với model 1100 shotgun, và cung cấp phạm vi lớn hơn hiệu quả và hỏa lực lớn hơn do dùng đạn Magnum, nhưng giá thành cao hơn. Remington 11-87 shotgun chiến thuật được sử dụng rộng răi bởi các thực thi pháp luật và thậm chí một số lực lượng quân sự ở Mỹ và trên toàn thế giới.
    Remington 11-87 là phiên bản nâng cấp của Remington 1100 nhưng hai phiên bản này không thể hoán đổi linh kiện cho nhau.
    Winchester 1300

    Loại: bán tự động
    Gauge: 12; 76mm / 3 "
    Trọng lượng: 3,06 kg đến 3,18 kg
    Chiều dài: 1.003 mm / 39,5 "đến 1.245 mm / 49"
    Độ dài ṇng: 457 mm / 18 "đến 711 mm / 28"
    Ổ đạn: 4, 5 hay 7 viên .
    Winchester 1300 lần đầu tiên được giới thiệu vào khoảng năm 1981, khi Công ty Lặp lại vũ khí Mỹ (USRAC) đă tiếp sản xuất của các "thương hiệu súng 'Winchester từ Tổng công ty Olin Winchester . Trong thực tế, phiên bản 1300 là một phiên bản cải tiến của phiên bản trước năm Winchester 1200 shotgun, được sản xuất bởi Olin / Winchester giữa năm 1964 và 1980.
    Giữa năm 2007 đóng cửa nhà máy sản xuất của USRAC phiên bản Winchester 1300 shotgun, cùng với vài loại Winchester thương hiệu khác, đă được chuyển đến Winchester Repeating Arms Co; súng mới sẽ được sản xuất bởi một trong những nhà sản xuất FN Manufacturing Co nằm ở Morgan, Utah.
    Winchester 1300 shotgun c̣n được gọi là bơm "tốc độ, v́ tốc độ lên đạn và bắn rất nahnh, làm cho những khẩu súng nổi tiếng trong cả hai thợ săn và xạ thủ thể thao. Các loại súng này cũng làm việc tốt cho quốc pḥng, an ninh.
    Winchester 1300 có rất nhiều phiên bản ,ḿnh không kể hết được.
    XM-26 LSS
    XM-26 LSS and M4

    XM-26 LSS độc lập

    Loại: vận hành bằng tay(bán tự động)
    Gauge: 12
    Chiều dài: 420 mm như một vũ khí đính kèm; 610 mm như là một vũ khí độc lập (với báng xếp)
    Độ dài ṇng: n / a
    Trọng lượng :1,02 kg như một vũ khí đính kèm; 1,9 kg như là một vũ khí độc lập
    Ổ đạn: 5 viên đạn trong ổ có thể tháo rời
    XM-26 LSS (LightShotgun System) đă được phát triển tại của quân đội Mỹ tại Soldier Battle Labnhững năm 1990.Các súng ngắn được sản xuất bởi công ty C-More Systems.
    Ư tưởng là để cung cấp binh lính với các phụ kiện vũ khí nhẹ, có thể được gắn kết theo tiêu chuẩn súng trường bộ binh ( M16A2 hoặc M4A1 carbine ) và cung cấp binh lính với khả năng bổ sung, chẳng hạn như: tăng sát thương tầm ngắn gây tử vong hoặc bán đạn hơi cay, đạn cao su và ṿng ít gây chết khác. Ư tưởng ban đầu đă được dựa trên hệ thống Masterkey, năm 1980, ban đầu định rút ngắn Remington 870 và gắn kết theo súng trường M16 hoặc M4 carbine. XM-26 cải tiến các khái niệm Masterkey ban đầu với các tùy chọn ổ dạn có thể tháo rời và thoải mái hơn khi xử lư, tháo lắp nhờ hệ thống bu lông.
    Tháo rời ổ đạn nhanh hơn và nhiều hơn nữa và nhanh chóng thay đổi các loại nạp đạn.Tại thời điểm hiện tại số lượng nhỏ của XM26 -LSS được cấp cho quân đội Mỹ tại Afghanistan, và, theo các nguồn tin có sẵn, các loại vũ khí đang được đón nhận bởi người sử dụng chúng. Người ta tin rằng XM-26 sẽ tương thích với súng trường tân công XM8.
    Phiên bản độc lập với báng xếp và có thêm các rail.
    Bạn nào xem phim Terminator Salvation (kẻ hủy diệt 4) đoạn Jone Conor xâm nhập căn cứ của Skynet th́ thấy súng này.
    Atchisson Assault AA-12


    Loại :tự động
    Gauge :12
    Chiều dài: 991 mm- Atchisson Assault M1972
    966 mm- Atchisson Assault AA-12 (2006)
    Độ dài ṇng: 457 mm
    Trọng lượng: 5,2 kg ;7,3 kg với ổ đạn viên- Atchisson Assault M1972
    4,76 kg rỗng- Atchisson Assault AA-12
    Ổ đạn: 5 viên trong ổ cong hoặc 20 viên trong ổ tṛn- Atchisson Assault M1972
    8 viên trong ổ cong hoặc 20 viên trong ổ tṛn- Atchisson Assault AA-12
    Tốc độ bắn: 360 viên / phút .
    Nhà thiết kế súng người Mỹ Maxwell Atchisson phát triển ư tưởng của ḿnh đầu tiên của năm 1972.Vũ khí này được dành cho chiến đấu trong môi trường gần giống như đường phố thành phố hoặc khu rừng. Nó cung cấp hỏa lực tầm ngắn cực lớn cho quân đội trong khi phục kích, càn quét .
    Đầu tiên nguyên mẫu đă khá đơn giản trong thiết kế và sử dụng. Đây cũng được đánh giá cao bất thường ở chỗ Atchisson khác thường sử dụng nhiều nhất (đối với shotgun) phương pháp hoạt động đơn giản giật lùi khi bắn .
    Shotgun này cũng làm việc như Browning BAR-1.918 Assault Rifles, điều này cho phép chọn lọc bán tự động. Ổ đạn có thể cong (5 viên) hoặc tṛn (20 viên) có thể tháo rời . Để cung cấp hỗ trợ cần thiết cho các ổ đạn, súng được trang bị với khung hỗ trợ ổ đạn và mà tay cầm khẩu súng ngắn. Các thước nhắm có thể mở với điều chỉnh phía sau.
    Atchisson Assault M1972 được sử dụng lần đàu tiên trong chiến tranh Việt Nam .Sau gần hai thập kỷ nó được Military Police System Co (Tennessee, USA) thiết kế lại với phiên bản Atchisson Assault AA-12 (2006). AA-12 sẽ được sử dụng với số lượng hạn chế bởi một số cơ quan Hoa Kỳ.
    USAS-12

    Loại: tự động,bán tự động
    Gauge: 12
    Chiều dài: 960 mm
    Độ dài ṇng: 460 mm
    Trọng lượng: 5,5 kg rỗng, 6.2kg với ổ đạn 10 viên
    Ổ đạn: 10 viên (ổ đạn cong)/20 viên (ổ đạn tṛn)
    Lịch sử của USAS-12 shotgun là khá thú vị. Thiết kế của nó xuất phát từ thiết kế năm 1980 của Maxwell Atchisson (Atchisson Assault). Vào khoảng năm 1989, Gilbert Equipment Co (USA) đă quyết định để đưa lên vũ khí bắn có chọn lọc, chủ yếu dựa trên nguyên tắc, làm việc của Atchisson Assault. Thiết kế của loại vũ khí mới được sản xuất bởi một người có tên là John Trevor v́ Gilbert Equipment Co không có khả năng sản xuất, nó bắt đầu để t́m các nhà sản xuất có thể sản xuất. Hóa ra là các nhà sản xuất duy nhất đồng ư để sản xuất vũ khí này là công ty Daewoo Precision Industries của Hàn Quốc, một phần của tập đoàn công nghệ cao DAEWOO.
    Các kỹ sư Daewoo thông qua các loại vũ khí mới vào dây chuyền kỹ thuật sản xuất của họ, và bắt đầu sản xuất hàng loạt trong thời gian đầu những năm 1990. Súng này cũng được bán cho quân đội và lực lượng an ninh của một số nước ở châu Á (không xác định) ,có hơn 30 000 USAS-12 đă được bán vào giữa thập niên 1990. Trong khoảng thời gian Gilbert Equipment Co cùng cố gắng để mua lại phiên bản tự động của USAS-12 bán cho thị trường Mỹ, nhưng BATF kịp thời phân loại vũ khí này là "không có mục đích thể thao", do đó, nó đă trở thành "Nhóm III thiết bị phá hoại" của đạo luật sử dụng súng tại Mỹ thông qua năm 1934. Điều này rất hạn chế sử dụng dân sự.
    Trong thời gian cuối những năm 1990, RAMO Defence Co bắt đầu lắp ráp USAS-12 từ Mỹ do Hàn Quốc chế tạo để bán trên thị trường trong nước, nhưng sau đó một lần nữa, doanh thu của vũ khí này được giới hạn chỉ cơ quan chính phủ. Hiện nay, súng này thường không có tại Mỹ, nhưng nó có lẽ vẫn c̣n đang được sản xuất bởi Daewoo tại Hàn Quốc.
    USAS-12 là shotgun tự động. Các tính năng được vay mượn từ các thiết kế Atchisson, là chốt hành tŕnh dài , mà kết quả làm đôh giật thấp và tốc độ bắn thấp, đó là điều cần thiết của vũ khí gauge 12 mạnh mẽ. USAS-12 là một vũ khí thuận cả hai tay, có hai cổng phóng vỏ đạn trên mỗi bên của và hai khe ngắm .
    USAS-12 có ổ đạn lớn cấp 10 hoặc 20 viên đạn tương ứng (có một số nguồn mà chỉ ra rằng các phiên bản trước đây của USAS-12 đă được nhập khẩu vào Mỹ với 12 và 28 viên đạn trong ổ). Báng polymer là rỗng , phiên bản báng gấp không có sẵn cho các thiết kế này.


  3. #93
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Bài viết
    202
    Next Level: 298

    Vậy là ḿnh đă giới thiệu xong với các bạn một số loại SHOTGUN thông dụng trên thế giới.Ḿnh xin kết thúc chủ đề về SHOTGUN và xin chuyển sang một ḍng súng mới,đó là MACHINE GUNS (MG).

  4. #94
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Bài viết
    202
    Next Level: 298

    Phải nói rằng ḍng súng MG xuất hiện từ rất sớm do hỏa lực cực mạnh của nó và tốc độ bắn dồn dập của nó ,lên ḍng MG không thể thiếu trong trang bị cho quân đội của bất kỳ quốc gia nào.MG được người Mỹ phát minh đầu tiên (1883) lên mở đầu xin giới thiệu về ḍng súng MG của Mỹ.

  5. #95
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Bài viết
    202
    Next Level: 298

    Colt Browning M1895


    Cỡ đạn: 6x55SR (243 USN), 7,62 x59R (30-40 Krag) và 7.62x63 (30-06);súng hiệu Mauser cũng 7x57, 7,7 x57R (303 người Anh) và 7,62 x54R trong các phiên bản xuất khẩu
    Trọng lượng : 16 kg (thân súng) + 25,4 kg (giá đỡ)
    Chiều dài :1040 mm
    Độ dài ṇng: 711 mm
    Kiểu băng đạn: dây
    Tốc độ bắn : 400 viên / phút
    Các thiết kế đầu tiên trong nước súng máy xuất hiện tại Mỹ vào năm 1895.Đây là súng máy Colt M1895, được phát triển bởi thiên tài súng John Moses Browning từ 1891 đến 1895.Nó đă được ví như một
    “máy đào khoai tây " .
    Hải quân Hoa Kỳ đă thông qua khẩu súng này khoảng năm 1896 với loại đạn 6mm (234 đạn không ch́), và một thời gian sau đó của quân đội Mỹ đă mua một số súng cho quân đội của dùng đạn (30-40 Krag). M1895 đă được sử dụng với số lượng giới hạn và thấy một số trong thời gian chiến tranh Mỹ-Tây Ban Nha năm 1898, cùng với vũ khí vận hành bằng tay (súng Gatling). Nó cũng được bán để xuất khẩu, đáng chú ư nhất để Đế quốc Nga, trong đó năm 1914 đă ra lệnh mua số lượng đáng kể M1895 với cỡ đạn 7.62x54R .
    Model 1895 súng máy (tại thời điểm nó đă không được công bố công khai kết hợp với tên của nhà phát minh của ḿnh, John Moses Browning). Nó sử dụng một giá cố định, thân súng nặng và với hệ thống khí Swinging piston. Trong hệ thống này, các piston khí nằm bên dưới ṇng ở góc phải và khí xả nó đă được thổi bằng khí bột về phía sau, người sử dụng giữ đ̣n bẩy dài gắn với thùng phía sau súng.
    Điều này piston đ̣n bẩy được kết nối với chốt bằng cách tập hợp các thanh chống và đ̣n bẩy, trong đó chuyển động của piston xuyên tâm đến các chốt. . Hệ thống này, trong khi yêu cầu cần mặt bằng lớn để hoạt động (nếu không th́ súng sẽ đào vào trong đất, do đó nó được ví là “máy đào khoai tây.
    Khóa ṇng đă đạt được đỉnh phần phía sau của chốt xuốn. Người sử dụng điều khiển tay cầm ở phiad sau. Nguồn cấp đạn đă được sử dụng dây vải, từ bên trái súng.Đạn được rút khỏi vành đai phía sau trước khi được tải vào ṇng; dành trường hợp bị đẩy ra bên phải qua khẩu độ trong nhận lắp. Súng được thiết kế chân máy vững chắc, với độ cao bằng nửa người
    Colt Model 1914.Phiên bản thương mại của M1895 ban đầu, ổ đạn của đ Mỹ ,30-06 (để sử dụng trong nước, chủ yếu là súng đào tạo quân đội), hoặc đạn 303 của Anh và 7,62 x54R cung cấp cho Anh và Đế quốc Nga.. Chính sự khác biệt là ṇng có thể tháo rời với bố trí h́nh tṛn vây.Súng này được chuyển tới các lực lượng Đồng Minh trong WW1.

  6. #96
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Bài viết
    202
    Next Level: 298

    Hotchkiss Portable
    Hotchkiss Portable Mk1 của người Anh


    Mercie Benet M1909 của người Mỹ

    Cỡ đạn:303 người Anh (7.7x57R)- Hotchkiss Portable Mk1
    30-06 (7.62x63)-Mercie Benet M1909
    Trọng lượng :12,8 kg- Hotchkiss Portable Mk1
    15 kg- Mercie Benet M1909
    Chiều dài :1190 mm- Hotchkiss Portable Mk1
    1244 mm- Mercie Benet M1909
    Độ dài ṇng: 565 mm- Hotchkiss Portable Mk1
    610 mm - Mercie Benet M1909
    Kiểu băng đạn: Dải cứng 9,14 hoặc 30 viên hoặc dải bán cứng nhắc 50 viên đạn - Hotchkiss Portable Mk1
    Dải cứng: 30 viên đạn- Mercie Benet M1909
    Tốc độ bắn: 500 viên / phút
    Súng máy hạng nhẹ Hotchkiss Portative được thiết kế bởi tay làm công ty Hotchkiss nổi tiếng người Pháp trong khoảng năm 1907, Vũ khí này là một cải tiến hơn bản gốc Hotchkiss medium machine gun và giữ lại hoạt động tương tự như hoạt động khí và sử dụng nguồn cấp dải đạn, mặc dù hệ thống nguồn cấp đạn được đảo ngược so với súng trước. Toàn bộ vũ khí cũng được thực hiện nhẹ hơn và nhỏ gọn hơn, và nó đă được sử dụng bởi người Mỹ và Anh. Các phiên bản thương mại của khẩu súng này cũng đă được bán cho Bỉ và Thụy Điển.
    Các phiên bản của Mỹ đă được biết đến như là Benet-Mercie máy M1909. Đây là bản Hotchkiss dùng để đem đi thích nghi với đạn 30-06 của Mỹ và được sản xuất bởi Hotchkiss tại Pháp hoặc tại Springfield Armory và Colt tại Mỹ.
    Tổng số súng máy M1909 bán được tại Mỹ ít hơn 700 khẩu súng, và họ kiếm được danh tiếng . Trong cuộc đột kích của Mỹ đến Mexico vào năm 1916 chống lại lực lượng Pancho Villia, khi bốn súng không thành công để cung cấphỏa lực hỗ trợ cho quân đội trong cuộc tấn công ban đêm của Villistas. Sau đó nó nhận ra rằng thất bại này do đào tạo không phù hợp của các đội súng. Trong WW1, Benet-Mercie M1909 đă được sử dụng để huấn luyện quân đội Hoa Kỳ trước khi gửi họ đến châu Âu.
    Phiên bản Anh được biết đến như là súng máy Hotchkiss Portable Mark I, chính thức áp dụng cho kỵ binh năm 1916. Nó đă được một lần nữa thay đổi một chút thích nghi với đạn Anh 303; thay đổi khác bao gồm một báng riêng bằng kim loại có thể tháo rời, giá đỡ đă được thay thế bằng một chân và gọn nhẹ, và một tay cầm đă được bổ sung. Do nhẹ hơn và báng ngắn hơn, nó đă nhẹ hơn phiên bản của Hoa Kỳ và của anh chị em ruột tại Pháp.
    Nó cũng được sử dụng như vũ khí trang bị trên tháp pháo xe tăng của Anh, với báng bị loại bỏ, và sử dải đạn cứng, nó được sử dụng trong bộ binh và kỵ binh.
    Lewis light machine gun

    Cỡ đạn: 303 (7.7x57R), 30-06 (7.62x63) và những loại đạn khác
    Trọng lượng: 11.8 kg
    Chiều dài :1283 mm
    Độ dài ṇng: 666 mm
    Kiểu băng đạn: chảo 47 hoặc 97-viên đạn
    Tốc độ bắn: 550 viên / phút
    Lewis light machine gun (súng máy hạng nhẹ) được thiết kế tại Mỹ do Đại tá Isaac N. Lewis, dựa trên súng máy trước đó của Tiến sĩ Samuel McLean, nhưng không t́m thấyngười sử dụng v́ phe đối lập cá của quân đội trong thị trường vũ khí Mỹ. Súng máy hạng nhẹ Lewis đang cố gắng bán ở nước ngoài, dựa trên công ty US-Arms Co, mà được tổ chức bằng sáng chế cho súng Lewis, thành lập một công ty con ở Bỉ, biết như Armes Automatiques Lewis SA. Và hợp đồng sản xuất đầu tiên cho "châu Âu" Lewis LMG được đặt vào năm 1913 với công ty Birmingham Small Arms (BSA) của Anh. Lô đầu tiên 50 súng Lewis cho BSA đă được hoàn thành vào giữa năm 1913, với mục tiêu rơ ràng của thị các khẩu súng trên khắp châu Âu. Khi chiến tranh bùng nổ, BSA đă nhận được đơn đặt hàng cho súng Lewis, và đến cuối của cuộc chiến tranh giao đă nhận hơn 15 ngàn khẩu súng Lewis. Tại Hoa Kỳ, súng máy Lewis được sản xuất với cỡ ṇng 30-06, chủ yếu cho Không lực ,Lục quân Hoa Kỳ và cho Thủy quân đoàn. Các súng Lewis cũng đă thấy sử dụng rộng răi như là một súng trên máy bay trong WW1 và trong thập kỷ sau.
    Súng máy hạng nhẹ Lewis đă trở thành nổi tiếng nhất ở Anh sử dụng và sản xuất; nó được sử dụng bởi quân đội Anh trong WW1 và sau đó. Trong WW2, rất nhiều súng bộ binh Lewis đă bị thu hồi từ các cửa hàng dự trữ và cấp cho đơn vị Cảnh sát Anh. Hơn nữa, trong học thuyết chiến tranh xâm lược của Đức trong 1940-1941,trong khi quân Anh –Mỹ dùng trên máy bay th́ người Đức sử dụng nó cho các cḥi canh với nhiệm vụ bảo vệ. Phải được lưu ư rằng chiếc máy bay dùng súng Lewis, cung cấp từ Mỹ thông qua chương tŕnh hỗ trợ Lend-lease, được dùng đạn 30-06 tại Mỹ khi chuyển đổi tại Vương quốc Anh, súng được giữ lại buồng đạn và được đánh dấu bằng sọc đỏ để phân biệt .Súng máy Lewis cũng đă được sản xuất theo giấy phép tại Nhật Bản (như loại 92, cho bộ binh và hải quân sử dụng trên không) và ở Hà Lan.
    Lewis súng máy hạng nhẹ hoạt động theo chất khí vận hành, làm mát bằng không khí,hoàn toàn tự động. Nó có một ṇng di động với bộ tản nhiệt nhôm, kèm theo các bao tản nhiệt h́nh ống có đường kính tương đối lớn; bao tản nhiệt đă được mở cửa từ cả hai phía trước và phía sau. Khi súng bắn giật lùi lại , làm tăng áp suất không khí lưu thông bên trong bao tản từ phía sau đến phía trước, buộc phải cung cấp không khí làm mát cho ṇng tương đối nhẹ. Trong các phiên bản máy bay bao tản nhiệt thường được loại bỏ để giảm trọng lượng.
    Hệ thống cấp đạn của súng Lewis cũng hơi bất thường, nó như cái chảo phẳng, mà được tổ chức trong ṿng hai lớp, không có ḷ xo để đưa đạn vào khẩu súng. Thay vào đó, ổ đạn được trang bị tự động, thông qua nguồn cấp đặc biệt hoạt độngvới cánh tay với hai cam. Với mỗi chu kỳ của của chốt, ổ đạn đă được quay bằng một bước để để viên đạn kế tiếp vào vị trí sẵn sàng. Đối với không chiến, ổ đạn bốn lớp với dung lượng lớn hơn đă được sản xuất.
    Ngoài ra nó c̣n có thước nhắm lên tới 400 thước Anh (1 thước = 0.914 mét).
    Browning M1917 và M1919
    M1917A1

    M1919A4

    M1919A6

    Cỡ đạn: 30-06/7.62x63
    Trọng lượng :14,8 kg súng + 3,3 kg nước + 24 kg sàn-M1917A1
    14,1 kg súng + 6,4 kg sàn-M1919A4
    14,7 kg súng với báng và càng-M1919A6
    Chiều dài :981 mm-M1917A1
    1044 mm-M1919A4
    826 mm-M1919A6
    Độ dài ṇng: 607 mm-M1917A1
    610 mm-M1919A4
    610 mm -M1919A6
    Kiểu băng đạn: dải 250 viên đạn
    Tốc độ bắn : 450-600 viên / phút-M1917A1
    400-500 viên / phút-M1919A4- M1919A6
    Mỹ bước vào cuộc chiến tranh thế giới I trong giai đoạn cuối vào năm 1917, với hàng tồn kho không nhỏ chủ yếu là súng máy lỗi thời. Lính Mỹ ở châu Âu đă phải mượn súng máy từ các đồng minh Pháp của họ. súng máy mới của họ nặng (trung b́nh theo tiêu chuẩn hiện đại) súng máy được yêu cầu, và nó đă được nhà sản xuất súng thiên tài người Mỹ John Browning phát minh. Năm 1917, sau khi ấn tượng thử nghiệm, một khẩu súng máy hạng nặng (thực sự là một cải tiến trên các thiết kế của riêng của Browning của năm 1901), được đặt thông qua nhiều xét nghiệm toàn diện của quân đội Mỹ, mà nó được thông qua. Nguyên mẫu đầu tiên được tŕnh bắn 20000 viên đạn mà không có kỳ sự cố hoặc trục trặc nào - một thành tích đáng kinh ngạc ngay cả theo tiêu chuẩn hiện đại. Để tăng cường tuyên bố của ḿnh, Browning gửi một nguyên mẫu thứ hai mà hiển thị tuyệt vời kết quả tương tự. Gần 40.000 của những khẩu súng máy hạng nặng mới M1917 đă được chuyển giao bởi các nhà thầu cho Quân đội Hoa Kỳ trước khi hiệp ước đ́nh chiến, mặc dù, không phải tất cả trong số này đạt đến quân đội Pháp trước khi kết thúc chiến tranh.
    Khi chiến tranh kết thúc, quân đội Mỹ giải quyết định chọn Browning M1917 là máy súng bộ binh tiêu chuẩn. Tuy nhiên, kỵ binh yêu cầu một loại vũ khí nhẹ hơn, vẫn c̣n có khả năng bắn lâu dài, và điều này đă được cung cấp dưới dạng mới của súng máy Browning, được gọi là M1919. Vũ khí này giữ lại các hoạt động cơ bản của súng M1917 không làm mát bằng nước, nhưng có không khí, làm mát bằng ṇng ngắn hơn, và được sử dụng một chân máy nhẹ và nhỏ gọn mà không đi qua và các cơ chế độ cao. Ngay sau khi nhận, các súng xe tăng M1919A1 xuất hiện, được sử dụng trên các xe tăng Mark VII Mỹ thay v́ dùng súng Marlin M1918.Các M1917 được nâng cấp để ra M1917A1 trong năm 1936 với sự cải tiến một vài thay đổi nhỏ khác. Năm 1940 quân đội Mỹ bắt đầu thử nghiệm cho một vành đai súng máy mới, thiết kế đă cố gắng nhiều, chủ yếu dựa trên thiết kế trước của Browning, chẳng hạn như súng Springfield Armory, dựa trên A / N MG trên máy bay M2 với một tốc độ bắn cao, hoặc súng Rock Island Armory dựa trên M1919. Có một vài vũ khí ban đầu là tốt, chẳng hạn như Sedgley khí vận hành súng máy Ruger-. Không có khẩu súng đă được t́m thấy phù hợp, do đó, quân đội Mỹ đă thông qua súng máy M1919A4 dựa trên M2 sàn như là một biện pháp tạm thời. Phiên bản này của việc thiết kế Browning phục vụ như là súng máy phổ thông cho quân đội Mỹ thông qua Thế chiến 2 và chiến tranh Triều Tiên(1950-1953). Khi lực lượng vũ trang Mỹ đă bắt đầu sự chuyển tiếp 30-06 thành đạn NATO 7,62 vào năm 1957, một số M1917 và M1919A4 súng máy đă được chuyển đổi để đạn dược này, và vài trong số những người chuyển đổi súng máy đă được sử dụng bởi Hải quân Hoa Kỳ trong giai đoạn đầu của cuộc chiến tranh Việt Nam .
    Bản sao của súng trường cỡ ṇng súng máy-Browning đă được thực hiện theo giấy phép của FN ở Bỉ và nhà máy Carl Gustaf của Thụy Điển.. Trước khi WW2 Ba Lan cũng sản xuất một phiên bản không có giấy phép của Browning đó là Wz.30.
    Browning BAR M1918

    Browning BAR M1918A2

    Dữ liệu cho M1918A2
    Cỡ ṇng: 7.62x63mm (30-06 M2)
    Trọng lượng: 8,8 kg rỗng
    Chiều dài: 1.214 mm
    Chiều dài ṇng: 610 mm
    Kiểu băng đạn: tháo rời hộp đạn, 20 viên
    Tốc độ bắn: 450 hoặc 650 viên/ phút(lựa chọn)
    Súng trường tự động Browning được thiết kế bởi nhà thiết kế vũ khí nổi tiếng người Mỹ John Moses Browning vào cuối Thế chiến thứ nhất, theo yêu cầu từ các quân đoàn viễn chinh Mỹ ở châu Âu.Ban đầu nó đă được chỉ là như thế - các Súng trường tự động, một vũ khí bắn, chọn lọc, dành cho bộ binh bắn từ vai hoặc từ hông khi tiến vào các vị trí đối phương và để cung cấp hỏa lực di động cho tiểu đội, thay thế súng máy nặng nề và rất ít cơ động. Tuy nhiên, M1918 BAR được cách quá nặng cho một vũ khí bắn vai, nặng hơn2 lần súng trường M1903 Springfield và chính xác là 2 lần súng trường bán tự động M1 Garand.
    Mặt khác, nó là quá nhẹ để có thể kiểm soát được trong chế độ tự động đầy đủ, đặc biệt là khi bắn ra từ một vị trí không được hỗ trợ vai. Dù sao, Browning BAR M1918 cũng được đói thủ cạnh tranh là Colt Firearms Co sản xuất cấp cho một số quân đội Hoa Kỳ vào cuối chiến tranh.
    Sau chiến tranh, sự phát triển của BAR tiếp tục. Trong năm 1922, Kỵ binh Hoa Kỳ đă thông qua súng máy hạng nhẹ M1922,bản cải tiến của Browning BAR M1918.Công ty Colt cũng sản xuất một phiên bản bán tự động sáng sủa hơn của BAR, được gọi là một phiên bản súng trường Colt 75 "Monitor". Điều này được dự định chủ yếu là để sử dụng cho cảnh sát, nhưng c̣n t́m thấy nó vào trong tay tội phạm.
    Trong những năm 1930, phiên bản tiếp theo của BAR, được xem như là M1918A1, được sản xuất một thời gian ngắn. Súng này đặc trưng càng gấp. Báng được trang bị khớp nối bằng thép.
    Trong năm 1939, phiên bản của BAR cuối cùng các xuất hiện, theo chỉ định là M1918A2. Đây là phiên bản, sản xuất bởi Colt, Marlin, Rockwell, và Winchester, phục vụ trong vai tṛ vũ khí tự động với quân đội Mỹ trong Chiến tranh thế giới thứ 2 và sau Chiến tranh Triều Tiên. Nhiều phiên bản trước đó đă được chuyển đổi M1918A1 thành M1918A2, trong đó đặc trưng càng gấp .Các thước nhắm nhỏ hơn và lá chắn nhiệt bằng kim loại giữa ṇng và xi lanh ,có hai chế độ tự động toàn thể lựa chọn tốc độ bắn, nhanh (~ 650 ṿng / phút) và chậm (~ 450 ṿng / phút). Tuy nhiên, hơi vụng về, khó chịu và nặng nề, rất nhiều M1918A2 đă được sử dụng với càng gỡ bỏ.
    BAR cũng t́m thấy đường vào quân đội châu Âu, khi Browning bán thiết kế của ḿnh cho công ty của Bỉ nổi tiếng Fabrique Nationale. Trong nhiều hay ít h́nh thức thay đổi, BAR phục vụ cho Ba Lan, Thụy Điển, Bỉ, các quốc gia Baltic vv. Các phiên bản BAR cuối cùng, tuy nhiên, xuất hiện chỉ sau Thế chiến 2, khi FN giới thiệu BAR của nó là loại súng máy hạng nhẹ, với nhanh tháo rời thùng và lơ xo phản hồi di chuyển vào báng. Súng này đă thấy không phục vụ quá nhiều, được thông qua chỉ bởi quân đội Bỉ trước khi chuyển đổi sang ổ đạn 7,62 mm NATO nhỏ hơn. Đă có rất nhiều nỗ lực tại Mỹ để chuyển đổi BAR cho đạn mới, nhưng thiết kế đă được kém phù hợp với sản xuất hiện đại, do đó, với sự thông qua của đạn 7.62x51mm NATO như là một tiêu chuẩn đạn dược cho quân đội Mỹ năm 1982, khi M249 SAW (FN Minimi súng máy hạng nhẹ) đă được giới thiệu .
    Nó phải được lưu ư rằng trong khi được một kỹ thuật thiết kế rất tốt (điển h́nh của thiên tài Browning), BAR không quá thành công trong cả súng trường tự động và vai tṛ LMG. Đối với Súng trường tự động đă quá nặng và quá không kiểm soát trongchế độ tự động. Đối với LMG, nó không có khả năng thay đạn và ṇng thay thế nhanh chóng, được thua kém về hỏa lực so với Bren của Anh, Degtyarov DP-27 của Liên Xô.
    Johnson M1941 và M1944
    Johnson M1941

    Johnson M1944

    Dữ liệu cho Johnson M1941
    Cỡ đạn:30-06 (7.62x63)
    Trọng lượng :6.48 kg
    Chiều dài :1066 mm
    Độ dài ṇng :558 mm
    Kiểu băng đạn: 20 viên đạn
    Tốc độ bắn: 300-900 viên / phút
    Súng máy hạng nhẹ M1941 được phát triển từ một súng trường bán tự động được thiết kế bởi Melvin C. Johnson trong thời gian cuối những năm 1930. Nó được dự định để hoàn thành vai tṛ của một đội vũ khí tự động, và có thể thay thế đáng đàn anh tôn kính Browning M1918 BAR.Súng Johnson của nhẹ hơn BAR đáng kể, trong khi có một ṇng và ổ đạn có thể nhanh chóng tháo rời.Tuy nhiên, bất kể thành tích của ḿnh, LMG của Johnson chia sẻ số phận của súng trường chị em của nó, là hoàn toàn từ chối bởi các quan chức quân đội Mỹ. Người Hà Lan ở Đông Ấn Độ thuộc chính phủ đặt hàng cho một số LMG M1941 vào năm 1941, nhưng Đông Ấn Độ đă bị Nhật Bản chiếm đóng của trước khi giao hàng được hoàn thành, do đó, số c̣n lại đă được mua bởi chính phủ Mỹ và phát hành với số lượng giới hạn trong quân đội.
    Sau đó trong chiến tranh, Johnson đă phát triển một phiên bản cải tiến của LMG, được gọi là M1944.. Phiên bản này thay thế các báng bằng gỗ với một h́nh ống thép, và cải tiến càng ,nó không có may mắn tại Mỹ, nhưng bản sao đă được một thời gian ngắn thực hiện tại Israel trong thập niên 1950 như là LMG Dror.
    M1944: một sự cải tiến hơn nữa của M1941. Hoạt động cơ bản là giống nhau nhưng báng bằng gỗ được thay thế bởi báng kim loại. Càng được thay thế bởi càng gấp nhẹ hơn, mà cũng có thể phục vụ như súng trường tấn công.
    26-M60

    M6E3

    M60E4

    Cỡ đạn:7.62x51 NATO 7.62x51 NATO
    Trọng lượng:10,4 kg (với càng)+6,8kg (M122 giá ba chân)-M60
    8,5 kg (với càng)-M60E3
    10,5 kg (ṇng dài)-M60E4
    10,2 kg (ṇng ngắn)- M60E4
    9,9 kg (ṇng dùng cho tấn công)- M60E4
    Chiều dài tổng thể:1067 mm- M60
    1077mm- M60E3
    1066 mm (ṇng dài)-M60E4
    939 mm (ṇng ngắn)-M60E4
    965 mm (ṇng dùng cho tấn công)-M60E4
    Độ dài ṇng :560 mm-M60
    558 mm-M60E3
    560 mm (dài)-M60E4
    441 mm (ngắn)-M60E4
    423 mm (tấn công)-M60E4
    Tốc độ bắn:550 viên/phút
    Kiểu băng đạnải 100 hoặc 200 viên
    Giống như các quốc gia khác mà phải đối mặt với quân Đức, Mỹ đă cho rất chú ư đến khẩu súng máy của Đức. Những thí nghiệm để chuyển đổi MG 42 đến cỡ ṇng súng trường Mỹ, thực hiện bởi Saginaw Steering Gear của General Motors Corp với nguyên mău T24 dẫn tới một thất bại hoàn toàn ,v́ Hoa Kỳ quên rằng nó dùng đạn 30-06 ngắn hơn đạn 7.92 m súng hiệu Mauser của Đức. Mặc dù trở ngại đó, quân đội Mỹ đặt vẫn phát triển một khẩu súng máy mục đích chung cho quân đội của ḿnh, và năm 1945 bắt đầu một loạt các thử nghiệm để kiểm tra khẩu súng được phát triển bởi xưởng vũ khí nhà nước khác nhau, công ty tư nhân của Mỹ và một số hệ thống từ các nhà thầu nước ngoài.
    Năm 1946 quân đội Mỹ đă thử nghiệm cỡ ṇng 30-06 T44 súng máy, một vũ khí mà kết hợp các tính năng từ của hai loại súng do người Đức thiết kế hoạt động của súng máy FG42 và dải đạn từ súng máy MG42. Các tính năng đáng chú ư nhất của T44 đă có vị trí cấp đạn phía bên trái người dùng thay v́ đạt ở trên súng so với thiết kế cổ điển.
    Sự phát triển của T44 đă được ngừng lại vào năm 1948, khi nó được quyết định tập trung rút ngắn thành đạn 7,62 mm T65 mới. Làm việc trên một mẫu thử nghiệm mới, có tên T52, bắt đầu vào năm 1947 và được tiếp tục cho đến năm 1952, khi nó được quyết định để thuyết phục một dẫn xuất của thiết kế T52, được gọi là T52E3, dưới tên gọi mới T161. Ban đầu dùng đạn 30-06 (như một biện pháp dự pḥng cho các khẩu súng ngăn cho 7,62 mm mới T65E3 đạn dược), các T161 đă đi qua nhiều phiên bản, bắt đầu với 7,62 mm T161E1 và lên đến T161E3, mà cuối cùng đă được thông qua vào năm 1957 là "súng máy, 7,62 mm, M60".
    Các súng máy M60 hoạt động trích khí vành đai, không khí làm mát bằng vũ khí từ một chốt mở và trong chế độ tự động chỉ. Nó đă thay đổi nhanh với ṇng không cần điều chỉnh khoảng đàu. Hầu hết các bộ phận được sản xuất bằng thép cách có ghi sử dụng và dán tem các kỹ thuật.
    M60 gốc được trang bị báng nhựa và nhựa cánh tay, kết hợp với lá chắn nhiệt được làm từ thép đóng dấu. Điều này làm tăng thêm trọng lượng của súng. Đối với tùy nhiệm vụ M60 có thể được cài đặt trên một chân máy M122 (với tùy chọn h́nh chữ T & E) và trên trục gắn trên xe và tàu hải quân.
    Có nhiều phiên bản
    M60E1 phiên bản cải tiến với tấm lót ṇng và một số cải tiến khác . Mặc dù có lợi thế rơ ràng của nó trên M60 cơ bản, nhưng nó đă không bao giờ được sử dụng với số lượng hoặc được phê duyệt .
    M60E2: đồng trục phiên bản xe tăng
    M60C: điều khiển từ xa máy bay (máy bay trực thăng)
    M60D:trên máy bay trực thăng hoặc vũ khí xe đất để linh hoạt gắn kết.
    M60 light: một phiên bản cải tiến của M60 lphát triển trong những năm 1970 bởi sự phân chia Saco của Maremont Corp. tay cầm bị bỏ qua và thay thế bằng một nắm khẩu súng về phía trước, dải đạn được cải thiện cho phép đóng bảo hiểm an toàn khi chốt ở vị trí phía trước của nó. Một số cải tiến khác đă được thực hiện, chẳng hạn như thước nhắm phía trước điều chỉnh số 0.
    M60E3: một dẫn xuất của loại M60 light , chia sẻ hầu hết các tính năng của nó cộng với một cẳng tay nhựa nhẹ kết hợp với một rănh phía trước. Sử dụng cho hoạt động đặc biệt lực lượng của Quân đội Hoa Kỳ và Hải quân.
    M60E4: một cải tiến hơn nữa trên M60E3 việc, phát triển trong những năm 1990 bởi Saco Defence (nay là một phần của General Dynamic. Hiện nay sản xuất theo giấy phép của Ordnance. Cải tiến chính là: sự ra đời của ba phong cách của ṇng (dài ,ngắn,tấn công) và cải thiện nguồn cấp đạn một vành đai với lực kéo lớn hơn làm cho khả năng nâng vành đai được cải thiện. Một vài bộ phận được thiết kế lại và tăng cường. Sử dụng bởi Hải quân Mỹ (chủ yếu là lực lượng hoạt động đặc biệt).
    Mk.43 mod.0: chỉ định M60E4 trong Hải quân Mỹ
    Mk.43 mod.1: chỉ định M60E4 của Hải quân Hoa Kỳ; súng khác Mod.0 bởi có nguồn cấp dữ liệu che phủ với rail có thể thêm vào tay cầm.
    Colt M16 automatic rifle
    Colt M16A1 automatic rifle

    Colt M16A2 automatic rifle

    Colt M16A3 automatic rifle

    Cỡ đạn: 5.56x45 NATO
    Trọng lượng :5.78 kg
    Chiều dài: 1000 mm
    Độ dài ṇng: 510 mm
    Kiểu băng đạn: hộp 30 hoặc 100 viên đạn
    Tốc độ bắn :600-750 viên / phút
    Công ty Colt xây dựng một loạt các phiên bản hạng nặng của"súng trường tự động" (automatic rifle) dựa trên hầu hết các phiên bản của súng trường tấn công M16 , bắt đầu từ đầu XM16E1 (mà cũng không thành công đă được chuyển đổi băng đạn dải) và lên đến tấn công M16A4 mới nhất súng trường. Những vũ khí này đă được bán ở nước ngoài, và nhỏ một số súng trường này đă được sử dụng bởi Thủy quân Lục chiến Mỹ trong vai tṛ vũ khí tự động trung đội trong cuối thập niên 1970 và 1980, trước khi nhận súng máy hạng nhẹ M249.Đó là giá trị cần lưu ư là hiện nay sản xuất Colt M16 LMG được sản xuất ở Canada chứ không phải Mỹ, bởi nhà máy Canada Colt ( Diemaco Ltd).
    Colt M16 là súng trường tự động vận hành khí, làm mát bằng không khí, lấy đạn từ ổ đạn. Hệ thống khí được sao chép từ súng trường M16. Súng được trang bị bộ đệm ḷ xo thủy lực làm giảm tốc độ bắn.
    Ổ đạn thường tích hợp là loại Beta-C với 100 viên (hay dùng ổ đạn truyền thống 30 viên).Tay cầm của súng làm bằng nhựa,các chi tiết có thể tháo rời giống M16A4, ngoài ra c̣n có các rail để tích hợp các thiết bị khác.


  7. #97
    Thành viên mới

    Ngày tham gia
    Feb 2010
    Bài viết
    22
    Next Level: 8

    Bài viết của anh quá chi tiết và phong phú, xin bái phục

  8. #98
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Bài viết
    202
    Next Level: 298

    Trích dẫn Nguyên văn bởi loskchanh Xem bài viết
    Bài viết của anh quá chi tiết và phong phú, xin bái phục
    Cảm ơn bạn đă ủng hộ.

  9. #99
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Bài viết
    202
    Next Level: 298

    Bây giờ chuyển sang một loại súng mà nhiều người mong chờ.

  10. #100
    Thành viên

    Ngày tham gia
    Mar 2010
    Bài viết
    202
    Next Level: 298

    27-M134 Vucal
    M134 bản đầu tại chiến tranh Việt Nam

    M134D bản xách tay có trong CF dùng cho bộ binh (rất hiếm gặp)

    M134D gắn trên máy bay

    M134D gắn trên tàu hải quân

    Cỡ đạn:7.62x51 NATO
    Trọng lượng:24 đến 30 kg súng với động cơ ,ít đạn,nguồn điện và làm mát
    Chiều dài:801mm
    Độ dài ṇng:559mm
    Kiểu băng đạn:Là dải đạn ,số lượng tùy vào mục đích
    Tốc độ bắn:3000-4000 viên/phút ,cố định
    Nói qua về ḍng súng này trước ,đây là súng M134 Vucal thuộc ḍng súng Gatling gun chứ không phải súng tên là Gatling gun trong CF ,các bạn đừng hiểu lầm.Súng này được một nhà thiết kế người Mỹ tên là Gatling phát minh vào năm 1862 .Súng này nhất thiết phải có một động cơ điện để vận hành , khi mới phát minh ra súng này thời đó súng được quay bằng tay lên khi sử dụng phải cần những người khỏe manh mới có thể sử dụng
    Đây là sự phát triển tầm cỡ của nhành công nghiệp vũ khí Mỹ, súng Gatling bên ngoài cung cấp loại máy được bắt đầu bằng vũ khí chi nhánh của các hệ dựa trên Tổng công ty General Electric trong năm 1960, sau phát triển thành công và phiên bản M61 súng tự động Vulcan 20mm (sử dụng trên các loại máy bay).
    M61 Vucal

    Nguyên mẫu đầu tiên của loại súng máy 7,62 mm Gatling được bắn vào năm 1962, và vào cuối năm 1964 súng máy 7,62 mm đầu tiên, gọi là 'các Minigun', đă được gắn trên máy bay Gunship AC -47 để thử nghiệm chiến đấu. Tiếp theo thành công của người tiên phong 'Gunship' trên máy bay trang bị Miniguns, GE bắt đầu sản xuất hàng loạt vũ khí mới, chính thức được thông qua bởi quân đội Mỹ như M134 Minigun và bởi Không quân Mỹ như súng máy GAU-2 . Vào năm 1971 hơn 10.000 Miniguns đă được sản xuất và chuyển giao cho lực lượng vũ trang Mỹ. Hầu hết đă được sử dụng cho không quân, được cài đặt trên giá máy bay (trước và bên hông) của trực thăng (AH-1 Cobra, UH-1 Huey, HH-53 Green Giant và một số phiên bản khác). Một số Miniguns cũng đă được cài đặt trên tàu tuần tra ven sông, được sử dụng bởi Hải quân Mỹ và các lực lượng đặc biệt tại Việt Nam.
    Nhờ khả năng duy tŕ và tốc độ bán cao, vũ khí cung cấp khả năng tuyệt vời. Nó phải được lưu ư, tuy nhiên, các ứng dụng bộ binh của Miniguns rất hạn chế do trọng lượng của hệ thống và yêu cầu của cấp điện cho động cơ điện. Trong hầu hết trường hợp, Minigun súng máy đă (và vẫn đang) được gắn trên xe cơ động cao như vũ khí chống phục kích.
    Trong thời gian gần đây, dự án sản xuất Miniguns 7,62 mm đă được nối lại bởi công ty dựa trên US Dillon Aero, mà bây giờ đă sản xuất một phiên bản cải tiến của thiết kế cơ sở, được gọi là M134D. Nó có nhiều nâng cấp cụ thể, dẫn đến giảm trọng lượng của hệ thống (đặc biệt là khi thân súng làm bằng súng titan), cải thiện độ tin cậy và xử lư tốt hơn và bảo tŕ dễ dàng. Các súng máy M134D được sử dụng trên máy bay trực thăng của quân đội nhiều (như MH-6 hoặc UH-60), cũng như trên HMMMV xe tải và hải quân.
    Phải nói rơ rằng là M134 rất hiếm khi dùng cho bộ binh , thế mà trong CF nó gần như phổ thông, ai cũng có thể cầm được.
    M134 dùng nguồn điện một chiều 24-28V ,58 A,1.5KW. Ḍng súng Gatling thường có 6 ṇng nhưng chỉ có 1 buồng đạn . Nguyên kư hoạt động không khó giải thích, khi súng khởi động nó quay 1 ṿng nạp vào mỗi ṇng 1 viên đạn,tới ṿng thứ hai th́ ṇng đầu tiên được nạp đạn sẽ qua buồng đạn và được kích hỏa, viên đạn sẽ bắn đi , sau đó tới ṇng số 2 ,c̣n ṇng 1 sẽ đi về vị trí khác (để làm mát),khi súng quay được nửa chu kỳ (3 ṇng )th́ ṇng 1 sẽ quay tới chỗ ổ đạn để nạp thêm 1 viên vào ṇng, chu kỳ cứ diễn ra như vậy .
    Có nhiều bạn sẽ thắc mắc tại sao súng Gatling có 6 ṇng,đó tại v́ súng có tốc độ bắn cực lớn (3000-4000 viên/phút) lên sẽ nóng ṇng rất nhanh , nếu để lâu sẽ làm cong ṇng, phá hủy súng .V́ vậy ḍng súng Gatling bắt buộc phải có hệ thống làm mát (bằng nước ,không khí,dầu…)
    XM-214

    Cỡ đạn: 5.56x45
    Trọng lượng: 10,2 kg (thân súng),38,6 kg hoàn thành với chân, pin tách rời, dải đạn và 1.000 viên đạn trong hộp
    Chiều dài: 732 mm
    Độ dài ṇng:n / a
    Kiểu băng đạn: Dải đạn, 1.000 viên đạn tiêu chuẩn
    Tốc độ bắn: 400-6000 viên / phút
    XM-214 ‘Microgun '/ '6-Pak' được phát triển bởi Công ty General Electric trong thời gian giữa đến cuối thập niên 1970 trong một nỗ lực để sản xuất thực tế súng máy nhỏ với mức giá thấp . Nó được dựa trên thành công 7.62x51mm Minigun M134, phát triển trước đó của cùng công ty.
    Nói chung XM-214 là phiên bản nhỏ hơn của M134 Vucal dùng dạn 5.56x45mm c̣n tất cả kết cấu th́ tương tự.

Trang 10/26 ĐầuĐầu 1 2 3 4 5 6 7 8 9 10 11 12 13 14 15 16 17 18 19 25 ... CuốiCuối

Quyền viết bài

  • Bạn không thể gửi chủ đề mới
  • Bạn không thể gửi trả lời
  • Bạn không thể gửi file đính kèm
  • Bạn không thể sửa bài viết của ḿnh