Tên tự gọi: Nồng.


Tên gọi khác: Xuồng, Giang, Nùng An, Nùng Ḷi, Nùng Cháo, Nùng Inh, Quư Rịn, Nùng Dín, Khen Lài, Nùng Phàn Sĺnh...



Nhóm ngôn ngữ: Tiếng Nùng thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái (ngữ hệ Thái - Ka Đai), cùng nhóm với tiếng Tày, tiếng Thái, và nhất là tiếng Choang ở Trung Quốc...


Dân số: 706.000 người (ước tính năm 2003)


Lịch sử: Người Nùng phần lớn từ Quảng Tây (Trung Quốc) di cư sang cách đây khoảng 200-300 năm.



Quan niệm phổ biến là mỗi mảnh đất, mỗi khu rừng đều có thổ công. Hàng năm người Nùng đều có lễ cúng thần rừng ở gốc cây cổ thụ hay các tảng đá có h́nh thù kỳ dị trong các khu rừng cấm. Người ta làm bàn thờ bằng tre, nứa để đặt các lễ vật cúng thần. Cư trú:Tập trung ở các tỉnh Lạng Sơn, Cao Bằng, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Ninh, Bắc Giang, Tuyên Quang


Đặc điểm kinh tế: Nguồn sống chính của người Nùng là cây lúa và cây ngô. Họ kết hợp làm ruộng nước ở các vùng khe dọc với trồng lúa cạn trên các sườn đồi.
Người Nùng làm việc rất thành thạo nhưng do cư trú ở những vùng không có điều kiện khai phá ruộng nước cho nên nhiều nơi họ phải sống bằng nương rẫy là chính. Ngoài ngô, lúa họ c̣n trồng các loại củ, bầu bí, rau xanh...
Đồng bào Nùng c̣n trồng nhiều cây công nghiệp, cây ăn quả lâu năm như quưt, hồng... Hồi là cây quí nhất của đồng bào, hàng năm mang lại nguồn lợi đáng kể. Các ngành nghề thủ công đă phát triển, phổ biến nhất là nghề dệt, tiếp đến là nghề mộc, đan lát và nghề rèn, nghề gốm.
Họ biết làm nhiều nghề thủ công: dệt, rèn, đúc, đan lát, làm đồ gỗ, làm giấy dó, làm ngói âm dương... Nhiều nghề có truyền thống lâu đời nhưng vẫn là nghề phụ gia đ́nh, thường chỉ làm vào lúc nông nhàn và sản phẩm làm ra phục vụ nhu cầu của gia đ́nh là chính. Hiện nay, một số nghề có xu hướng mai một dần (dệt), một số nghề khác được duy tŕ và phát triển (rèn). Ở xă Phúc Sen (huyện Quảng Hoà, Cao Bằng) rất nhiều gia đ́nh có ḷ rèn và hầu như gia đ́nh nào cũng có người biết làm nghề rèn.
Chợ ở vùng người Nùng phát triển. Người ta thường đi chợ phiên để trao đổi mua bán các sản phẩm. Thanh niên, nhất là nhóm Nùng Phàn Sĺnh, thích đi chợ hát giao duyên.


Tổ chức cộng đồng:Đồng bào Nùng sống thành từng bản trên các sườn đồi. Thông thường trước bản là ruộng nước, sau bản là nương và vườn cây ăn quả.

Trước Cách mạng tháng Tám, xă hội người Nùng đă đạt đến tŕnh độ phát triển như ở người Tày. Ruộng và nương thâm canh đă biến thành tài sản tư hữu, có thể đem bán hay chuyển nhượng. H́nh thành các giai cấp: địa chủ và nông dân.
.


Văn hóa:

Mỗi dịp tết người Nùng đều làm nhiều loại bánh. Phổ biến các loại bánh được chế biến bằng gạo xay trên các cối xay bằng đá. Đồng bào Nùng có một kho tàng văn hóa dân gian phong phú và có nhiều làn điệu dân ca đậm đà màu sắc dân tộc. Tiếng Sli giao duyên của thanh niên Nùng Lạng Sơn ḥa quyện vào âm thanh tự nhiên của núi rừng gây ấn tượng sâu sắc cho những ai đă một lần lên xứ Lạng. Then là làn điệu dân ca tổng hợp có lời, có nhạc, có kiểu trang trí, có h́nh thức biểu diễn đă làm rạo rực tâm hồn bao chàng trai Nùng khi ở xa quê hương.
Lễ hội nổi tiếng thu hút được nhiều người, nhiều lứa tuổi khác nhau là hội "Lùng tùng" (c̣n có nghĩa là hội xuống đồng) được tổ chức vào tháng giêng hàng năm.
Sli là hát giao duyên của thanh niên nam nữ dưới h́nh thức diễn xướng tập thể, thường là đôi nam, đôi nữ hát đối đáp với nhau và được hát theo hai bè.
Người ta thường Sli với nhau trong những ngày hội, ngày lễ, ngày chợ phiên, thậm chí ngay trên tàu, trên xe.
Người Nùng ăn tết giống như ở người Việt và người Tày.


Nhà cửa: Người Nùng cư trú ở các tỉnh Đông Bắc nước ta, họ thương sống xen kẽ với người Tày. Phần lớn ở nhà sàn. Một số ở nhà đất làm theo kiểu tŕnh tường hoặc xây bằng gạch mộc. .
Làm nhà mới là một trong nhiều công việc hệ trọng. V́ thế khi làm nhà người ta rất chú ư tới việc chọn đất, xem hướng, chọn ngày dựng nhà và lên nhà mới với ước mong có cuộc sống yên vui, làm ăn phát đạt.

Trong nhà người Nùng bàn thờ tổ tiên thường để ở gian bên trái. Bàn thờ là nơi tôn nghiêm được trang trí những bức hoành phi và câu đối viết bằng chữ Hán trên nền giấy đỏ. Nhiều nơi c̣n có bức phùng Slăn đề tên ḍng họ. Nhà Tày - Nùng có những đặc trưng riêng không giống các cư dân khác trong cùng nhóm ngôn ngữ Tày - Thái. Bộ khung nhà Tày - Nùng cũng được h́nh thành trên cơ sở các kiểu v́ kèo. Có nhiều kiểu v́ kèo khác nhau, nhưng chủ yếu là bắt nguồn từ kiểu v́ kèo - ba cột. Để mở rộng ḷng nhà người ta thêm một hoặc hai cột vào hai bếp v́ kèo ba cột để trở thành v́ kèo năm hoặc bảy cột. Song không có v́ kèo nào vượt quá được bảy cột. Bộ khung nhà chúng ta dễ nhận ra hai đặc trưng:
- Ô v́ kèo, đứng trên lưng xà, kẹp giữa hai cột có một trụ ngắn h́nh "quả bí" (hay quả dưa: nghé qua), đầu đấu vào thân kèo.

- Để liên kết các cột trong một v́ kèo hay giữa các v́ kèo với nhau, người ta không dùng các đoạn xà ngắn mà dùng một thanh gỗ dài xuyên qua thân các cột.
Mặt bằng sinh hoạt của nhà Tày - Nùng trên cơ bản là giống nhau: mặt sàn chia làm hai phần: một dành cho sinh hoạt của nữ, một dành cho sinh hoạt của nam. Các pḥng và nơi ngủ của mọi thành viên trong nhà đều giáp vách tiền và hậu.

Trang phục người Nùng Inh Nói đến nhà Tày - Nùng có lẽ không nên bỏ qua một loại h́nh nhà khá đặc biệt, đó là "nhà pḥng thủ". Thường là có sự kết hợp gữa nhà đất và nhà sàn (đúng hơn là nhà tầng). Tường xây gạch hoặc tŕnh rất dày (40-60cm) để chống đạn. Trên tường c̣n được đục nhiều lỗ châu mai. Có nhà c̣n có lô cốt chiến đấu. Loại nhà này chỉ có ở Lạng Sơn gần biên giới phía bắc để pḥng chống trộm cướp.
.
Trang phục: Y phục truyền thống của người Nùng khá đơn giản, thường làm bằng vải thô tự dệt, nhuộm chàm và hầu như không có thêu thùa trang trí. Nam giới mặc áo cổ đứng, xẻ ngực, có hàng cúc vải. Phụ nữ mặc áo năm thân, cài cúc bên nách phải, thường chỉ dài quá hông.

Ít có biểu hiện đặc sắc về phong cách tạo h́nh (áo nam giống nhiều dân tộc khác, áo nữ là loại năm thân màu chàm, quần chân què ít trang trí). Điểm khác nhau giữa các nhóm, một trong những biểu hiện là cách đội khăn và các loại khăn trang trí khác nhau đôi chút.

.



Ăn:

Bếp của người Nùng gồm 2 phần: phần ngoài đặt 3 ông đầu rau hoặc kiềng để nấu ăn và sưởi ấm, c̣n phần trong là bếp ḷ đắp bằng đất sét đặt chảo to để nấu cám lợn. Ở nhiều vùng người Nùng ăn ngô là chính. Ngô được xay thành bột để nấu cháo đặc như bánh đúc. Thức ăn thường được chế biến bằng cách rán, xào, nấu, ít khi luộc. Nhiều người kiêng ăn thịt trâu, ḅ, chó.
Người Nùng thích ăn các món xào mỡ lợn. Món ăn độc đáo và được coi trọng là sang trọng của đồng bào là "Khau nhục". Tục mời nhau uống rượu chéo chén có lịch sử từ lâu đời, nay đă thành tập quán của đồng bào.

.

Phương tiện vận chuyển:
Các phương thức vận chuyển truyền thống là khiêng, vác, gánh, mang, xách. Hiện nay ở một số địa phương người Nùng sử dụng xe có bánh lốp do các vật kéo để làm phương tiện vận chuyển.
.

Cưới xin: Nam nữ được tự do yêu đương, t́m hiểu và khi yêu nhau họ thường trao tặng nhau một số kỷ vật. Các chàng trai tặng các cô gái đ̣n gánh, giỏ đựng con bông (hắc ĺ) và giỏ đựng con sợi (cởm lót). C̣n các cô gái tặng các chàng trai áo và túi thêu.
Tuy nhiên hôn nhân lại hoàn toàn do bố mẹ quyết định, trên cơ sở hai gia đ́nh có môn đăng hộ đối không và lá số đôi trai gái có hợp nhau hay không. Nhà gái thường thách cưới bằng thịt, gạo, rượu và

Mang đồ dẫn cưới sang nhà gái.
tiền. Số lượng đồ dẫn cưới càng nhiều th́ giá trị của người con gái càng cao. Việc cưới xin gồm nhiều nghi lễ, quan trọng nhất là lễ đưa dâu về nhà chồng. Sau ngày cưới cô dâu vẫn ở nhà bố mẹ đẻ cho đến sắp có con mới về ở hẳn nhà chồng.
.

Sinh đẻ: Ngoài lễ đặt bàn thờ bà mụ và lễ mừng trẻ đầy tháng ở một số nhóm Nùng c̣n tổ chức lễ đặt tên cho trẻ khi chúng đến tuổi trưởng thành.
.

Ma chay: Có nhiều nghi lễ với mục đích chính là đưa hồn người chết về bên kia thế giới.
.

Thờ cúng:
1 góc thờ cúng của người nùng Thờ tổ tiên là chính. Bàn thờ đặt ở nơi trang trọng, được trang hoàng đẹp, ở vị trí trung tâm là bức phùng slằn viết bằng chữ Hán cho biết tổ tiên thuộc ḍng họ nào. Ngoài ra c̣n thờ thổ công, Phật bà Quan âm, bà mụ, ma cửa, ma sàn, ma ngoài sàn (phi hang chàn)... và tổ chức cầu cúng khi thiên tai, dịch bệnh... Khác với người Tày, người Nùng tổ chức mừng sinh nhật và không cúng giỗ.
.

Lịch: Người Nùng theo âm lịch.
.

Học: Có chữ nôm Nùng dựa theo chữ Hán, đọc theo tiếng Nùng và chữ Tày - Nùng trên cơ sở chữ cái La-tinh.
.

Chơi:Trong các ngày tết, ngày lễ, ngày hội thường có một số tṛ chơi như tung c̣n, đánh cầu lông, đánh quay, kéo co...